• RSS
  • Facebook
  • Twitter
Showing posts with label chiến tranh việt nam. Show all posts
Showing posts with label chiến tranh việt nam. Show all posts
Comments

Kỳ 4: Tổng kết cuộc chiến tranh Mỹ - Việt 1954-1975
(tiếp theo kỳ 3)

------------------------------------------------------------------------

Mục lục:

Hậu quả chiến tranh

Chiến tranh tâm lý của Mỹ ở Việt Nam

1. Tố Cộng

2. "Thảm sát ở Huế"

Những tội ác chiến tranh được các nhân chứng và nhà nghiên cứu độc lập ghi nhận

Một số ngộ nhận thường thấy trong cuộc chiến

Tình nghĩa giữa Việt Nam với nhân dân Mỹ và thế giới

1. Ngọn lửa Morrison

2. Biểu tượng Martin Luther King

Nguyên nhân chiến thắng

1. Nguyên nhân sâu xa

Ý nghĩa chiến thắng

1. Giải phóng hoàn toàn miền Nam

2. Thống nhất đất nước


------------------------------------------------------------------------

Trước khi bùng nổ cuộc chiến lịch sử với Việt Nam, Hoa Kỳ đã trải qua khoảng 150 cuộc chiến với hàng ngàn chiến dịch, hàng vạn trận đánh từ năm 1776 đến 1953, trong suốt quãng thời gian dài đó, quân đội Hoa Kỳ chưa thua 1 cuộc chiến nào.

Tại Việt Nam năm 1954, Pháp chưa đi - Mỹ đã đến. Say men bách chiến bách thắng, nhà cầm quyền Mỹ đã chọn sai đối tượng ngay từ đầu khi họ chọn Việt Nam làm đối tượng tiến hành chiến tranh xâm lược. Họ vào một quốc gia có truyền thống chống ngoại xâm lâu đời, và tồn tại, độc lập, tự chủ sau bao nhiêu nghiệt ngã của thời cuộc. Sau 1000 năm Bắc thuộc và 100 năm Pháp thuộc, dân tộc Việt Nam đã phải gồng mình đứng lên chống quân xâm lược mới.

Trải qua 177 chiến dịch, bao gồm 130 chiến dịch trên bộ, 34 chiến dịch trên không, và 13 chiến dịch trên biển, Chiến tranh Việt Nam (cách gọi theo góc nhìn Mỹ), trở thành cuộc chiến đầu tiên và đang là duy nhất trong lịch sử Hoa Kỳ mà người Mỹ đã thua.

Thường trong các cuộc chiến tranh, phe tấn công xâm lược hầu như không bao giờ thừa nhận chiến bại (đặc biệt là Trung Quốc mấy ngàn năm nay). Và kết quả thắng bại trong các cuộc chiến cũng thường có những tranh luận, quan điểm khác nhau trong giới nghiên cứu quốc tế. Nhưng đối với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam thì gần như tất cả nhà sử học, nhà quân sự, nhà lãnh đạo, chính trị gia Hoa Kỳ và quốc tế, bao gồm 5 đời tổng thống Mỹ, Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara, ngoại trưởng Henry Kissinger v.v. đều nhìn nhận là Mỹ đã thua cuộc chiến này.

Chỉ có 1 người luôn khăng khăng không dám chấp nhận sự thật rằng Mỹ đã chiến bại, đó là đại tướng William Westmoreland, tổng tư lệnh liên quân ở Việt Nam. Những thất bại của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, đỉnh cao là chiến dịch Mậu Thân, đã làm cho Westmoreland bị cách chức, đây là một vết nhơ và nỗi nhục trong binh nghiệp của ông ta, và là một tỳ vết cho gia đình có truyền thống quân ngũ của ông ta. Ông ta bị thân bại danh liệt, danh dự cá nhân và gia đình tiêu tan, sự nghiệp quân sự và cả chính trị đã tiêu tan trong Chiến tranh Việt Nam.

Trong Chiến tranh Việt Nam, sau nhiều thất bại và chịu nhiều áp lực nóng hổi từ chính phủ, Westmoreland đã "không vui", sau khi bị cách chức ngay sau đợt 1 của cuộc tổng tấn công chiến lược năm Mậu Thân 1968, ông ta càng cay đắng. Và tâm lý cay đắng không cam lòng đó đã đi theo và ám ảnh Westmoreland suốt quãng đời sau này. Khi trả lời phỏng vấn phim tài liệu nổi tiếng Hearts and Minds (Trái tim và khối óc) năm 1974, khi được hỏi về các tội ác, thương vong do người Mỹ gây ra ở Việt Nam, để giảm nhẹ tội ác, Westmoreland nói: "Người Á Đông không đặt cao giá trị sinh mạng họ như người phương Tây. Chúng ta đánh giá cao sinh mạng và giá trị con người. Họ không quan tâm đến sinh mạng và giá trị con người".

Trong lần trả lời phỏng vấn tạp chí George năm 1998, khi được hỏi về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người được đông đảo giới quân sự quốc tế đánh giá là một thiên tài quân sự, Westmoreland đã lúng túng trả lời một cách vụng về: "Ừ thì dĩ nhiên ông ta là một đối thủ xứng tầm. Để tôi nói thêm là Giáp đều luyện quân theo đơn vị thấp với chiến thuật du kích, nhưng ông ta cứ quyết phải xua quân tiến hành chiến tranh đơn vị cao, làm cho quân của ông ta bị tổn thất kinh khiếp. Với trách nhiệm của ông ta, đến năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất, cái gì, hình như khoảng nửa triệu lính? Ông ta đã công bố điều này? Sự không quan tâm đến sinh mạng con người đó có thể làm nên một đối thủ tạm được, chứ nó không làm nên một thiên tài quân sự. Một tư lệnh Mỹ mà mất nhiêu đấy lính khó có thể tồn tại trong quân ngũ hơn vài tuần."

Theo danh sách đang cập nhật, bổ sung của Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington DC, Hoa Kỳ, và Tạp chí Lịch sử Quân sự Việt Nam, tài liệu của Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương thì tổng thương vong của quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam là 365.157 quân.

Trong số hơn 36 vạn quân Mỹ thương vong, có 58.168 lính chết trong lúc giao tranh (kill in action). Bản danh sách đầu tiên năm 1982 là gồm 57.939 người, và 1.875 người vẫn còn mất tích (tính đến năm 2004).

Trong số 58.168 người Mỹ tử trận, có 7.878 sĩ quan. Trong số sĩ quan chết trận, có 426 tư lệnh và sĩ quan chỉ huy. Trong số đó có 37 người cấp tướng. Sự tổn thất to lớn của Mỹ ở Việt Nam đã vượt Thế chiến I và chiến tranh Triều Tiên.

Có hơn 6 triệu người Mỹ sinh hoạt, hoạt động ở Việt Nam. Trong số những người Mỹ đó có 2.709.918 người mặc đồng phục (in uniform) hoặc/và phục vụ khu vực giao tranh. Trong số những người đó có khoảng 55-60 vạn binh lính phục vụ cho chính phủ Mỹ ở Việt Nam. Tổng số cựu quân nhân chiến tranh Việt Nam chiếm 9,7% cả thế hệ của họ....

Đối với quân đội Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam căng thẳng hơn cả Thế chiến II. Trung bình mỗi người lính bộ binh Mỹ trong chiến tranh Thái Bình Dương (thuộc Thế chiến II) tốn khoảng 40 ngày chiến đấu trong 4 năm. Nhưng trung bình mỗi người lính bộ binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam tốn khoảng 240 ngày chiến đấu trong 1 năm nhờ chiến thuật Trực thăng vận.

Đi kèm theo sự tổn thất to lớn về sinh lực, nhân mạng là sự phá sản của 3 chiến lược chiến tranh (Đặc biệt, Cục bộ, Việt Nam hóa), 2 chiến lược tác chiến (Tìm và Diệt - Search and Destroy [S&D], Quét và Giữ - Clear and Hold), chiến lược Quét và Giữ (Clear and Hold) được tướng Creighton Abrams áp dụng tại Việt Nam, thay cho chiến lược Tìm và Diệt của Westmoreland, sau khi ông thay thế Westmoreland làm tổng tư lệnh liên quân sau thất bại chiến lược của Hoa Kỳ trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Quét và Giữ về cơ bản là một chiến lược chống nổi dậy và chống chiến tranh du kích, bao gồm 3 yếu tố: Các chiến dịch quân sự - dân sự phối hợp, chiến dịch quân sự tác chiến, và chiến tranh thông tin.

Ngoài ra, 3 loại hình chiến tranh công nghệ cao là chiến tranh điện tử (electronical warfare), chiến tranh hóa học (chemical warfare), và chiến tranh khí tượng (weather warfare), cùng với 2 chiến thuật quân sự Trực thăng vận và Thiết xa vận đều bị phá sản hoàn toàn ở Việt Nam. Đặc biệt chiến thuật Trực thăng vận sau này không còn được Mỹ sử dụng nữa, mà chuyển hẳn sang chuyển quân bằng máy bay phản lực hoặc xe tăng. Chiến trường Việt Nam đã đưa đến cái chết hoàn toàn cho chiến thuật Trực thăng vận thịnh hành một thời, đặc biệt sau chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.

Cuộc chiến tranh lịch sử này đã in sâu vào lòng công chúng Mỹ từ thế hệ này sang thế hệ khác và đã đi vào văn hóa đại chúng như là một "hội chứng Việt Nam". Tại Mỹ có hơn 30 ngàn sách, tiểu thuyết, truyện tranh viết về Chiến tranh Việt Nam; có 135 nhạc phẩm về Chiến tranh Việt Nam, gồm có 96 ca khúc phản chiến được lưu hành không chính thức, trong đó có 2 bài hát về cuộc thảm sát Đại học Tiểu bang Kent, khi cảnh sát Mỹ xả súng vào các sinh viên biểu tình ôn hòa phản đối chiến tranh (bài "Ohio" sáng tác năm 1970 và "Student Demonstration Time" năm 1971).

Tổng cộng có 64 phim điện ảnh Hollywood về Chiến tranh Việt Nam (bao gồm 6 phim trong cuộc chiến và 58 phim sau cuộc chiến). Có 8 phim tài liệu về Chiến tranh Việt Nam (gồm 4 phim trong cuộc chiến và 4 phim sau cuộc chiến). Đó là không tính các phim ảnh tâm lý chiến quá lộ liễu chiếm phần lớn nội dung như phim "Chúng tôi muốn sống".

Có 54 trò chơi thương mại về Chiến tranh Việt Nam, trong đó có 47 trò chơi điện tử, bao gồm 37 trò chơi cho các máy Nintendo, Sega, Playstation và 10 trò chơi máy tính.

Hầu hết các sản phẩm văn hóa của người dân Mỹ đều nói lên rõ nét những yếu tố chính trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, như bản chất cuộc chiến, phong trào phản chiến, và tội ác chiến tranh.

Trong bộ truyện tranh Watchmen, một trong những thương hiệu truyện tranh lớn nhất ở Mỹ, có câu chuyện về việc trong khi Mỹ đang thua thì tổng thống Richard Nixon đã mời được tiến sĩ siêu nhân Manhattan can thiệp vào chiến tranh Việt Nam và giúp quân đội Mỹ thành công bình định miền Nam, sau đó xâm lược nốt miền Bắc. Kết quả Việt Nam trở thành tiểu bang thứ 51 của Mỹ.

Trong bộ phim danh tiếng Forrest Gump, nhân vật chính là một người thiểu năng trí tuệ. Tuy vậy, khi sang Việt Nam chiến đấu anh lại trở thành anh hùng khi cứu được trung đội trưởng thoát chết sau một trận đánh. Khi trở về, anh lại tham gia phong trào phản đối Chiến tranh Việt Nam cùng người yêu.

Trong bộ phim X-Men Origins: Wolverine, người sói Wolverine, một trong những nhân vật chính trong đội siêu anh hùng X-Men, đã từng chiến đấu và gây các tội ác chiến tranh, hãm hiếp trẻ em ở Việt Nam.


Đại tướng Creighton W. Abrams, kiến trúc sư của chiến lược Quét và Giữ ở chiến trường Việt Nam

Hậu quả chiến tranh

Theo các hồ sơ, tài liệu của Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội, sau đây là các loại bom mà không quân Hoa Kỳ sử dụng ở Việt Nam:

  • Bom phá MK-81, MK-82, MK-83, MK-84, M117A1, T55-E6 sử dụng để diệt mục tiêu bằng sóng xung kích và mảnh của vỏ bom.
  • Bom mảnh sử dụng các mảnh thân bom để tiêu diệt mục tiêu lộ thiên hoặc thiết giáp hạng nhẹ khi nổ.
  • Bom xuyên sử dụng để diệt các mục tiêu bọc thép, phá hủy những công trình kiên cố, đường hầm, địa đạo, công trình bê tông cốt thép bằng cách xuyên vào mục tiêu và nổ.
  • Bom cháy sử dụng để diệt mục tiêu, sát thương sinh lực, đốt cháy nhà cửa, cây cối.
  • Bom hóa học sử dụng để diệt sinh lực hoặc gây nhiễm độc địa hình và các phương tiện kỹ thuật bằng chất độc quân sự. Các loại bom hóa học Mỹ ném xuống Việt Nam thường chứa chất độc kích thích CS, chất độc tâm thần BZ, LSD, Mescalin pxyloxin….
  • Bom phát quang thường dùng để phát quang nhanh khu vực rừng rậm, mặt đất để dọn bãi cho trực thăng đổ bộ và bố trí trận địa pháo.
  • Bom chống tăng dùng hiệu ứng nổ lõm để diệt xe tăng, mục tiêu bọc thép khác và kho chứa….
  • Bom chùm thường sử dụng để sát thương diện rộng, có kết cấu bom mẹ chứa bom con.



Miền Bắc điêu tàn dưới bom Mỹ

Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội Bùi Hồng Lĩnh cho biết kết quả điều tra trên cả nước có khoảng 66.000 km2 còn tồn đọng vật liệu bom, mìn. Ước tính còn khoảng hơn 600.000 tấn bom mìn đang tồn tại dưới đất. Hiện mới chỉ có khoảng 20% lượng bom, mìn được tháo gỡ. Bình quân mỗi năm có khoảng 20.000 ha đất được rà phá. Với tiến độ này, khoảng 300 năm nữa mới có thể loại bỏ được hết các loại bom mìn chưa nổ.

Bom mìn còn sót lại sau cuộc chiến này đã gây tổn thất nặng nề về sinh mạng, tài sản, đời sống của người dân, ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Bom mìn đã cướp đi mạng sống của 10.529 người, làm 12.231 người bị thương, trong đó 25% các thương tích này là ở trẻ em lứa tuổi từ 14 tuổi trở xuống. Bom mìn do quân đội Hoa Kỳ mang đến Việt Nam tàn phá còn sót lại khoảng hàng trăm ngàn tấn, rải rác trên khắp cả nước, đặc biệt các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi....


Lính Mỹ mệt mỏi chán nản nhìn xác đồng đội. Trận chiến ban ngày kết thúc, họ chờ đợi trực thăng đến di tản đồng đội của họ khỏi các ngọn đồi có rừng nhiệt đới bao phủ tại tỉnh Long Khánh.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chính phủ Hoa Kỳ đã huy động hàng triệu người Mỹ, trong đó có 4.649.000 người dưới 20 tuổi, khoảng 40% các nhà khoa học vật lý, 260 trường đại học, khoảng 22.000 xí nghiệp lớn với khoảng 5,5 triệu công nhân phục vụ cuộc chiến. Hơn 6 triệu người Mỹ sinh sống và sinh hoạt trong những vùng tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam, hậu quả là gần nửa triệu con lai Mỹ ra đời, nhiều người trong đó không biết rõ cha mình là ai, nhiều người phải sống trong các cô nhi viện cả trong và sau cuộc chiến.

Riêng năm 1968, mỗi ngày Mỹ chi phí cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lên đến khoảng 100 triệu USD, gấp 10 lần chi phí cho cuộc chiến chống nghèo đói ở Mỹ trong thời gian đó. Riêng những hậu quả về con người: Tính từ giữa năm 1961 đến năm 1974, đã có tổng số 57.259 người Mỹ đã tử trận ở Việt Nam. Nếu tính theo toàn bộ thời gian cuộc chiến, từ năm 1954 đến 1975 thì có tổng số 58.168 người Mỹ đã chết ở Việt Nam. Tháng 11 năm 1982, chính phủ Hoa Kỳ đã khánh thành Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam để tưởng niệm những công dân Mỹ đã chết ở Việt Nam, bản danh sách ban đầu gồm 57.939 người, trong đó có 37 cấp tướng.

Tuy bị tổn thương nặng nề, Việt Nam vẫn giáng trả vào quân xâm lược những thiệt hại, thương vong tột cùng, gieo rắc vào đầu họ những hội chứng, ám ảnh không thể nào quên, trở thành những vết thương không bao giờ lành. Số lượng quân nhân Mỹ bị mắc bệnh tâm thần trong và sau thời gian chiến đấu ở Việt Nam là nhiều nhất trong tất cả các cuộc chiến mà quân đội nước này tham gia trong lịch sử.


Một người Mỹ đau khổ trước Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington DC, Hoa Kỳ.

Lần đầu tiên, vào năm 1988, chính phủ Mỹ buộc phải thừa nhận có khoảng 15% trong số lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam trở về bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Cựu binh Jim Doyle và David Curry chỉ là 2 trong số gần 60 vạn quân Mỹ bị chính phủ họ đẩy vào vũng lầy Việt Nam. Jim Doyle đã bị đẩy tới chiến trường Việt Nam khi mới 18 tuổi, mặc dù may mắn sống sót trở về, nhưng đến giờ người cựu binh này vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh: "Chiến tranh là địa ngục. Nó tác động ghê gớm đến con người như một vết thương không thể hàn gắn.""Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, chiến tranh không chỉ lấy cắp thời thanh niên của tôi mà còn đeo đuổi, ám ảnh suốt cuộc đời tôi". Các nhà xã hội học Mỹ cũng xác nhận: Kể từ sau năm 1975 đến nay, năm nào cũng có những cựu binh Mỹ đã từng chiến đấu ở Việt Nam bị tinh thần bất ổn, trầm cảm rồi tự sát.

Chiến tranh tâm lý của Mỹ ở Việt Nam

Hoa Kỳ luôn tận dụng mọi khía cạnh, mọi vấn đề để giành phần thắng, và trong các loại hình chiến tranh mà Mỹ tiến hành luôn luôn được hỗ trợ bằng chiến tranh tâm lý (psychological warfare - viết tắt: PSYWAR). Các tác chiến tâm lý bao gồm cả những hành động mua chuộc, chiêu dụ, lôi kéo những kẻ địch bản xứ đứng về phía Mỹ hoặc hiệu quả hơn đó là gia nhập hẳn vào hàng ngũ của Mỹ, như chiến dịch Moolah mà Mỹ đã sử dụng hạn chế ở Trung Quốc và sử dụng rộng rãi ở Triều Tiên, với đối tượng chiêu dụ chủ yếu là lực lượng không quân của đối phương. Chiến dịch Moolah khi đến Việt Nam đã được nâng cấp thành chương trình Chiêu Hồi (Open Arms), tấn công tâm lý vào mọi đối tượng của đối phương.


Thiếu tá Alan Byrne (trái) và trung tá Robert Laabs (phải), tham mưu trưởng Trung tâm Phát triển Chiến tranh tâm lý (PSYOP Development Center), Đoàn hành động Chiến tranh tâm lý 4 (4th PSYOP Group) ở Việt Nam năm 1968


Hình bìa sách giáo khoa hướng dẫn chiến tranh tâm lý do chính phủ Mỹ xuất bản năm 1968 trong Chiến tranh Việt Nam, có tên là MACV PSYOP Guide (Kim chỉ nam Chiến dịch Chiến tranh tâm lý - PSYOP). Lưu ý trong hình có hai người Việt trong nhà hàng đang đọc truyền đơn Chiêu Hồi.


Một trang trong kim chỉ nam chiến tranh tâm lý Chieu Hoi - The Winning Ticket (Chiêu Hồi - Tấm Vé Giành Chiến Thắng) do chính phủ Mỹ ấn hành năm 1970. Dịch: Một người bắt đầu nghĩ nếu được cho một cơ hội, anh ta có thể từ bỏ tranh đấu. Nhiều người quả thật từ bỏ tranh đấu, nếu họ có cơ hội.


Truyền đơn hù dọa của Mỹ. Dòng chữ ghi: Không có nơi nào để chạy.... không có nơi nào để trốn! Tăng và thiết giáp của lữ đoàn 1 Thiết Kỵ sẽ "tìm và diệt" các người! Đã quá muộn để chống cự. Việt Cộng hãy coi chừng, nơi nào cũng có chúng tôi! Bây giờ hãy quy thuận chương trình Chiêu Hồi; đó là con đường sống duy nhất của các người.

Hệ thống chiến tranh tâm lý của Hoa Kỳ được chia làm 3 phần: Chiến lược tâm lý, chiến dịch thông tin, và chiến thuật tâm lý. Mỗi sản phẩm thông điệp của chiến tranh tâm lý Hoa Kỳ đều được "chế tạo" thành và phổ biến rộng rãi ra một cách chuyên nghiệp.

Có 3 loại hình tuyên truyền mà Mỹ dùng để tạo nên các sản phẩm thông điệp, bao gồm tuyên truyền "Trắng" là một hình thức tuyên truyền công khai, chính thống, chính thức, tuyên truyền "Đen" và tuyên truyền "Xám" là hình thái tuyên truyền ngụy trang, che đậy, mờ ám, tiêu cực. Trắng, xám, đen không phải là sự phân loại về nội dung tuyên truyền, mà là sự phân loại về biện pháp, phương thức được sử dụng để thực hiện chiến dịch chuyển tải, phát tán những sản phẩm thông tin đó.

Chiến tranh tâm lý "Trắng" là loại hình tuyên truyền bằng những công bố, tuyên bố, hoặc động thái chính thức của chính phủ Mỹ, hoặc từ những thông tin được cung cấp bởi những nguồn có liên quan đến chính phủ Mỹ, cũng như những báo chí, truyền thông chính thống (mainstream media) tại Mỹ. Nó công khai cho thấy nó là thông tin từ phía Mỹ, từ chính quyền Mỹ.

Những cơ quan phụ trách tuyên truyền "Trắng" nhắm vào đối tượng độc giả, khán thính giả nước ngoài bao gồm: Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, Sở Thông tin Hoa Kỳ (United States Information Agency - USIA), Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (United States Agency for International Development - USAID), Bộ quốc phòng Hoa Kỳ, và nhiều sở, bộ khác của chính phủ Hoa Kỳ.

Chiến tranh tâm lý "Xám", là loại hình tuyên truyền bằng những nguồn tin mờ mịt, mơ hồ, không rõ ràng. Nguồn gốc thật (chính phủ Mỹ) không được tiết lộ tới những đối tượng độc giả, khán thính giả. Những nguồn tin được ngụy tạo như là một nguồn tin phi chính thống không phải từ chính phủ Mỹ, hoặc "trung lập" giả tạo, hoặc ngụy tạo là những nguồn từ phía thứ ba không thù địch với đối tượng mà chính phủ Mỹ muốn bôi nhọ.

Chiến tranh tâm lý Xám cũng có thể là những nguồn tin tuyên truyền cho góc nhìn, quan điểm của Hoa Kỳ, phục vụ cho lợi ích của chính sách ngoại giao Hoa Kỳ, có hại cho đối tượng mà Hoa Kỳ muốn bôi nhọ, mà không trực tiếp từ Hoa Kỳ, có thể từ những quốc gia "vệ tinh" của Mỹ, những quốc gia lệ thuộc Mỹ, những đồng minh lâu năm của Mỹ v.v. mà có bàn tay của Mỹ của trong đó. Có nhiều trường hợp những tác động, tham gia của phía Mỹ cũng không được tiết lộ.

Chiến tranh tâm lý "Đen", là loại hình tuyên truyền từ những nguồn (quốc gia, chính phủ, đảng phái, phe nhóm, tổ chức, cá nhân v.v.) có thái độ thù địch với cộng đồng quốc tế nói chung. Lợi dụng hoặc là ngụy tạo những nguồn đó. Lợi ích của chính phủ Mỹ được khéo giấu đi và chính phủ Mỹ nếu cần sẽ bác bỏ trách nhiệm. Loại hình tâm lý chiến này thích hợp cho những kế hoạch chiến lược cao.

Để đạt được hiệu quả cao nhất 2 loại hình chiến thuật chiến tranh tâm lý overt (công khai) và covert (giấu kín) đều phải được chia cách ra làm 2 tổ riêng rẽ, biệt lập với nhau. Nhân viên tham gia chiến thuật overt không thể tham gia chiến thuật covert, và ngược lại. Họ không biết được nhiệm vụ của nhau.


Tấm hình của lính Mỹ Paul Sgroi chụp chuyên viên tâm lý chiến John C. Stermer đang rải truyền đơn từ trực thăng UH-1H (Huey) vào năm 1969.


Truyền đơn được rải xuống từ máy bay U-10



Đội phát loa chiến tranh tâm lý Mỹ-ngụy trên chiến trường Việt Nam

Ngay từ đầu thập niên 1950, khi Mỹ chỉ mới đứng sau và viện trợ cho Pháp xâm lược Đông Dương, chứ họ chưa tiến hành chiến tranh với Việt Nam, thì chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên liệu trước, đề phòng trước, và đã cẩn thận cảnh báo về chiến tranh tâm lý của Mỹ và kêu gọi quân dân Việt Nam phải đề cao cảnh giác trước tâm lý chiến của Hoa Kỳ.

Trong thời gian đó Bác Hồ đã viết nhiều bài báo, phân tích, bình luận về các thủ đoạn và hình thức tẩy não, nhồi sọ, tuyên truyền dối trá của Mỹ, trong đó có 2 bài viết ấn tượng đó là bài "Tuyên truyền" do Bác Hồ viết ngày 25-5-1954 trên báo Nhân dân số 188 và bài "Chiến tranh nhồi sọ" do Bác viết ngày 25-7-1952 trên báo Cứu quốc số 2128.

Trong bài "Tuyên truyền", Bác viết: "Nói tóm lại, chúng dùng đủ mọi cách, mọi dịp để tuyên truyền, để hòng phá hoại tâm lý và tinh thần của nhân dân ta; cũng như chúng dùng bom đạn để phá hoại mùa màng và giao thông của ta." Cuối bài Người nhấn mạnh ý chính: "Chúng ta phải đánh thắng địch về mặt tuyên truyền, cũng như bộ đội ta đã đánh thắng địch về mặt quân sự!"

Trong bài "Chiến tranh nhồi sọ", Người viết: "Ở các nước, có hơn 400 cơ quan làm việc tuyên truyền cho Mỹ... Mỹ còn lập nhà thương, trường học, hội từ thiện, vân vân, ở các nước, để làm cơ quan tuyên truyền và ổ mật thám. Hiện nay, tại những vùng tạm bị (Pháp) chiếm ở nước ta, Mỹ đang ra sức xâm lược vǎn hoá để hủ hoá và gieo rắc bệnh phục Mỹ, thân Mỹ, sợ Mỹ vào nhân dân, nhất là vào thanh niên ở những vùng ấy. Đó là một điều mà cán bộ giáo dục và tuyên truyền ta phải đặc biệt chú ý và phải ra sức chống lại."


Hình bìa truyện tranh "Is this tomorrow, America under communism" (Phải chăng đây là ngày mai, Hoa Kỳ dưới chủ nghĩa cộng sản).


Rất nhiều sách, truyện tâm lý chiến đã được xuất bản ở miền Nam Việt Nam. Tháng 7 năm 1967, 20 trang sách in màu, mật mã 2078, dưới tựa đề "Qua Cơn Ác Mộng" (The Chieu Hoi Story) được phát hành, truyện trình bày theo phong cách truyện tranh, hư cấu "nỗi niềm" của một "hồi chánh viên", những "trải nghiệm ác mộng" dưới chế độ cộng sản ở vùng giải phóng và và lý do vì sao anh ta phải thoát ly cách mạng.


Tháng 10/1967, 20 trang sách với 12 hình chụp với tựa đề "Nhật ký của người Hồi Chánh" (Diary of a Returnee), mật mã 2169, được phát hành, truyện hư cấu theo hướng nội dung kể trên. Sách này còn liệt kê danh sách những chế độ đãi ngộ, tiền thưởng để chiêu dụ.

Năm 1955, Mỹ đài thọ cho chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập Nha Chiến tranh Tâm lý, người Mỹ chịu mọi chi phí. Năm 1965, cơ quan này đổi tên thành Cục Tâm lý chiến và sát nhập vào Tổng cục chiến tranh chính trị.

Hoạt động của Nha Chiến tranh Tâm lý trong những vùng tạm chiếm ở miền Nam chủ yếu là tẩy não, nhồi sọ, tuyên truyền chống cộng, bôi nhọ những người chống Mỹ, vu khống các nhà lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, bịa đặt hoặc xuyên tạc tình hình ngoài Bắc, "chụp nón cối" những nhóm đối lập với Mỹ-ngụy, nhất là trong giới tôn giáo, Phật giáo....

Các hoạt động này chủ yếu được thực hiện bằng những buổi truyền thanh (ví dụ: chương trình Dạ Lan, Nhạc Thời Chinh Chiến, Tiếng Ca Gửi Người Tiền Tuyến), truyền hình (ví dụ: chương trình Thép Súng), xuất bản (ví dụ: báo Chánh Đạo, báo Tiền Tuyến), chiếu phim (ví dụ: phim Chúng Tôi Muốn Sống do người Mỹ dàn dựng và sản xuất), văn nghệ (ví dụ: Biệt đoàn văn nghệ trung ương) .... Hai công cụ chính là Đài Phát thanh Quân đội và báo Chánh Đạo.


Áo tâm lý chiến. Trên áo là logo của chương trình Chiêu Hồi.



Những du kích phản bội nhận tiền thưởng sau khi dẫn binh lính Mỹ-ngụy tới kho vũ khí bí mật.

Hoạt động của nó trong những vùng giải phóng ở miền Nam và miền Bắc chủ yếu là kích động bất ổn, xúi giục, tung tin thất thiệt, tuyên truyền chống CNXH và CNCS, bôi nhọ chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, vu khống các nhà lãnh đạo của VNDCCH, bịa đặt hoặc bóp méo tình hình trong Nam, kêu gọi lật đổ chế độ, ca ngợi Mỹ-ngụy, tuyên truyền không trung thực về tình hình xã hội miền Nam, ca ngợi giả dối về hình ảnh một "Hòn ngọc Viễn Đông" "giàu mạnh", "phồn vinh", "thịnh vượng", tuyên truyền về các khái niệm "tự do", "dân chủ", "nhân quyền" theo định nghĩa và định hướng của Hoa Kỳ....

Các hoạt động này của nó chủ yếu bằng đài phát thanh "Tiếng nói Tự do", "Mẹ Việt Nam", "Gươm thiêng Ái quốc" (1965), "Tiếng nói Nam Bộ", "Tiếng nói Khmer" và "Mặt trận Dân tộc Đông Dương". Riêng 2 đài sau hoạt động chủ yếu nhằm gây chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia.


Hình tuyên truyền cho kế hoạch Ấp tân sinh (Ấp đời mới), sau khi kế hoạch Ấp chiến lược bị thất bại và phá sản.

Các cơ quan chiến tranh tâm lý của Mỹ-ngụy hoạt động theo phong cách phát xít chống cộng kiểu Đức Quốc Xã, như Joseph Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền của Hitler đã tuyên bố đại ý: Sự thật là những gì không đúng sự thật được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, lúc đầu dân không nghe, còn bán tín bán nghi, nhưng lặp đi lặp lại mãi thì dân sẽ tin đó là sự thật.

Tuy nhiên kết quả cuộc chiến Việt - Mỹ và kết quả hạn chế của các hành động chống Nhà nước Việt Nam, lặp đi lặp lại những lời lẽ vu khống của các thế lực phản động từ sau cuộc chiến đến nay đã cho thấy rằng lý thuyết, quan điểm, cách làm này của Đức Quốc Xã và Mỹ-ngụy là không có nhiều hiệu quả.


Bích chương tuyên truyền chống cộng của phát xít Đức


Bích chương tuyên truyền của Đức Quốc Xã năm 1918, vẽ hình một người thuộc giai cấp vô sản đang chuẩn bị ném quả bom vào một thiên thần da trắng tóc vàng, được cho là ám chỉ chủng tộc "thượng đẳng" Aryan. Dòng chữ ghi: Bolshevik mang đến chiến tranh, thất nghiệp và đói khổ.

Các cơ quan liên quan đến ngành tâm lý chiến bao gồm:

Cục chính huấn, công tác chính của nó là tẩy não và nhồi sọ những thanh niên bị bắt lính. Cơ quan này đã sáng tác nhiều bài hát quân đội (ví dụ: "Hàng ngàn cánh tay đưa lên", "Giặc từ miền Bắc vô đây"), bắt chước thể loại nhạc hùng ca của Việt Minh, để "lên dây cót" tâm lý, kích động tinh thần quân lính và đưa họ ra chiến trường chiến đấu cho chính phủ Mỹ, đánh thay và đỡ đạn cho quân đội viễn chinh Mỹ.

Cục xã hội và Cục quân tiếp vụ, các chuyên viên và các nha tuyên úy lo việc "ru ngủ" các tầng lớp xã hội, bao gồm cả tôn giáo. Cung cấp đô la hoặc hàng hóa như thuốc lá, bơ, sữa cho binh lính và gia đình ở giá thấp hơn giá thị trường. Mở các hoạt động ngụy tạo từ thiện, bố thí tiền bạc và vật chất để quảng cáo, tiếp thị, quảng bá hình ảnh Diệm-Thiệu và "người bạn lớn Hoa Kỳ".

Trường Đại học Chiến tranh Chính trị: Đào tạo các kỹ năng tẩy não, nhồi sọ của chiến tranh tâm lý kiểu Mỹ. Tổ chức hội luận, nghiên cứu kỹ thuật tẩy não, nhồi sọ các thanh niên miền Nam bị bắt lính, và chương trình tẩy não, nhồi sọ trong các quân trường. Thành lập từ năm 1956 dưới tên Trường Quân báo Tâm lý chiến Cây Mai. Năm 1964 đổi tên thành Trường Chiến tranh Chính trị. Năm 1966 đổi tên thành Trường Đại học Chiến tranh Chính trị và dời lên Đà Lạt. Trường đào tạo được 6 khóa sĩ quan rồi bị giải tán sau ngày 30/4/1975.


Truyền đơn ngày 4/20/1968


Truyền đơn SP-782


Truyền đơn 2310

1. Tố Cộng

Trong chiến dịch Tố Cộng, ngoài những đàn áp bạo lực, bỏ tù, lưu đày, ám sát, chặt đầu để tiêu diệt người cộng sản, Mỹ-Diệm cũng thực hiện chiến dịch chiến tranh tâm lý quy mô lớn để mị dân trong một số khu vực. Tuy nhiên, chính những đồng bào không nằm trong hàng ngũ kháng chiến đã góp công rất lớn vào cuộc đấu tranh chống chiến tranh tâm lý.

Tại Quảng Trị, ngụy quyền chuẩn bị một bản danh sách "tội ác cộng sản" rồi bắt ông Lê Chí Khiêm trong ban trị sự hội Phật học lên đọc. Trước khi đọc ông nói: "Bản này không phải tự tay tôi viết ra, mà nói đây la tộc ác của cộng sản thì chính tôi chưa bao giờ nghe và chưa bao giờ thấy, nhưng người ta viết ra bảo tôi đọc thì tôi xin đọc để bà con nghe".

Hình tượng hơn là chuyện ở Phan Rí (Bình Thuận). Khi một quận trưởng muốn mị dân, cho tổ chức một cuộc tranh luận giữa ông ta với người dân địa phương về những cái tốt và cái xấu giữa phía kháng chiến và phía Mỹ-Diệm, ông Bộ Gạch người dân tộc Chăm đã đứng lên nói một điều không nằm trong các giáo trình tâm lý chiến mà người quận trưởng đã chuẩn bị từ trước: "Các ông có chín cái tốt và một cái xấu, còn cộng sản có chín cái xấu và một cái tốt. Các ông cái gì cũng tốt nhưng ở với dân xấu quá. Cộng sản cái gì cũng xấu nhưng ở với dân quá tốt. Các ông có làm gì đi nữa, lòng dân vẫn theo cộng sản và cuối cùng cộng sản vẫn thắng."

Trong một đêm Tố Cộng ở Chợ Lớn, một ông cụ đã nói: "Việt Cộng có nhiều cái xấu: Súng xấu, đạn xấu, quần áo xấu, chỉ có cái tốt là trong kháng chiến hồi đánh Tây đã sống chết để bảo vệ dân. Các ông thì có nhiều cái tốt: Súng tốt, xe cộ tốt, quần áo tốt, chỉ có cái xấu là giật của dân thôi".

Người dân còn đặt nhiều câu hỏi làm cho những kẻ chỉ đạo các cuộc Tố Cộng ấp úng khó trả lời như: "Các ông nói cộng sản độc tài, nhưng chúng tôi không thấy cộng sản độc tài vì trong kháng chiến cộng sản kêu gọi đánh Tây giành độc lập mới có hòa bình, dân đói họ kêu gọi sản xuất để được no ấm.", "Các ông nói cộng sản 'cướp công kháng chiến', nhưng lúc đánh Tây, các ông ở đâu, sao toàn thấy cộng sản?", "Nói quốc gia kháng chiến sao lại đi làm cho Tây?".

Những câu hỏi đúng sự thật như vậy làm cho ban tổ chức thường xuyên bị bí không trả lời được. Nhiều lần họ phải giải tán lớp học. Một người chủ tịch Hội đồng chỉ đạo tố cộng cấp trung ương ngụy quyền đã phải nói: "Đây là một thất bại lớn vì phong trào chất vấn rộng rãi, hướng dẫn viên của chúng ta không trả lời được".


Hình truyền đơn SP-1352A - mặt trước


Truyền đơn ATF-088-71 - mặt trước và sau

2. "Thảm sát ở Huế"

Ngoài chiến dịch chiến tranh tâm lý rộng lớn kể trên của Mỹ-Diệm, sau này Mỹ-Thiệu cũng thực hiện một chiến dịch chiến tranh tâm lý quy mô lớn sau trận đánh 25 ngày ở Huế trong sự kiện xuân Mậu Thân 1968.

Sau trận chiến 25 ngày, Mỹ-ngụy trong một sự kiện ở Huế mà nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân và nhiều cư dân Huế gọi là sự kiện "Hậu Mậu Thân" đã lùng sục trả thù, giết hại. Người dân Huế nào có thiện cảm, có giúp đỡ Mặt Trận dù chỉ là vài lon gạo, vài đồng tiền dành dụm, hay cả nhà có 1 người nào đó theo cách mạng, đều bị đem ra trả thù, hành quyết. Họ đã tẩy trắng Huế bằng bom đạn trong nỗ lực chiếm lại thành phố. Và sau khi đã chiếm lại thì họ ngăn chặn phóng viên vào tác nghiệp, đồng thời mở cuộc tổng trả thù quy mô lớn.

Một nhân chứng ở Huế, chị Nguyễn Thị Hoa khi trả lời phỏng vấn trong phần 7 của loạt phim tài liệu 13 phần Vietnam: A Television History (Việt Nam: Thiên lịch sử truyền hình), do đài PBS (Mỹ), WGBH Boston (Mỹ), CIT (Anh), Antenne-2 (Pháp) và LRE Production (Pháp) sản xuất và phát hành, đã cho biết: "Bắt đầu là chúng nó (Mỹ) dùng phi pháo. Chúng dội pháo vào khu vực chúng tôi sinh sống, san bằng nhà cửa, cây cối. Chúng bắn pháo vào nhà những khu vực quanh đó. Những nhà này bán xăng dầu nên khi pháo bắn thì cháy trụi. Tất cả người già, trẻ nhỏ, phụ nữ lánh nạn ở đây đều bị thiêu sống."

Sau đó, Mỹ-ngụy gom lại xác những nạn nhân chiến tranh lại, trong đó phần lớn là những người dân bị chết bởi bom đạn Mỹ, những người dân bị chính họ tàn sát trả thù, những thi thể chiến binh Giải phóng và lính ngụy, cũng như những cộng sự của Mỹ, gom lại hết, rồi quay phim và chụp hình tuyên truyền giả dối đó là "nạn nhân thảm sát của Việt Cộng", thậm chí sau đó một số kẻ viết thuê ở Sài Gòn còn nâng lên thành "hành quyết", "chôn sống", con số thì có những bài báo phóng đại lên đến "hàng triệu".

Sau khi chiếm Huế, Mỹ-ngụy phong tỏa khu vực, ngăn cấm tất cả phóng viên nào muốn vào Huế kiểm chứng các "hố chôn tập thể". Sau khi đã dàn dựng xong, họ mới cho các phóng viên báo chí ngụy quyền, hoặc chống cộng, hữu khuynh vào đưa tin, làm phóng sự về "tội ác Việt Cộng", rồi sau đó mới hoàn toàn cho phép các phóng viên quốc tế, trung lập vào tác nghiệp.

Nhà văn Trần Thị Thu Vân (Nhã Ca) sau đó được chỉ đạo viết tiểu thuyết "Giải khăn sô cho Huế" theo phong cách tự truyện, một dạng "hồi ký ma" được hư cấu từ trí tưởng tượng phong phú của một nhà văn tâm lý chiến chuyên nghiệp lĩnh lương Mỹ để tuyên truyền bôi nhọ lực lượng kháng chiến.

Chiến dịch chiến tranh tâm lý này tuy đã thành công lừa gạt được một bộ nhận nhỏ, nhưng không lừa dối được nhiều người Việt Nam và người dân thế giới, bởi vì:

  • Chỉ nói suông, không bằng chứng, không có hình chụp, thước phim nào có những người lính Giải phóng trong đó. Trong tất cả các hình ảnh về tội ác chiến tranh ở Việt Nam thì những bức ảnh lính Mỹ-ngụy gây tội ác nào mà có lính Mỹ-ngụy trong đó thì được công nhận là tội ác Mỹ-ngụy. Còn những bức ảnh không có lính Mỹ-ngụy trong đó thì bị các cơ quan tâm lý chiến tuyên truyền thành "tội ác cộng sản". Tất cả các bức ảnh được giới tâm lý chiến Sài Gòn và các thế lực chống cộng tuyên truyền xưa nay đều không có bất kỳ 1 hình nào có người lính Giải phóng trong đó, chỉ thấy nạn nhân cùng những lời bình chụp mũ, gán tội vô căn cứ, không bằng không chứng và giấu đi ai là kẻ thủ ác thật sự.
  • Không hợp thường lý và không có tiền lệ. Quân Giải phóng sống trong dân, sống nhờ vào dân, được dân nuôi giấu, che chở, thảm sát dân chính là tự sát, là tự tuyệt đường sống của quân mình.
  • Trái ngược với luật pháp Việt Nam, các nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng cũng như chính sách của Nhà nước, hay các tuyên thệ, quân luật, cách làm, các hành động lâu nay của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến lược của Việt Nam là chiến tranh nhân dân, với phương châm "quân với dân như cá với nước". Mỹ-ngụy đã phải xây các trại tập trung như Ấp chiến lược để gom dân, dồn dân vào đó để tách dân ra khỏi quân, "tát nước bắt cá". Các chỉ thị từ trên xuống quân đội thường xuyên nhấn mạnh "phải dựa vào dân". Vì vậy những hành động gây tai tiếng, làm xấu hình ảnh trước nhân dân và dư luận quốc tế là không hợp lý. Thực tế trước và sau chiến dịch Mậu Thân thì sự ủng hộ của người dân đối với cách mạng vẫn vậy không lay chuyển.
  • Không phù hợp với các bằng chứng hay những lời kể từ các nhân chứng ở hiện trường, cũng như không được nhiều người trên thế giới tin tưởng, đề tài này không được các học giả xem là một đề tài nghiêm túc để đưa vào các tác phẩm, công trình nghiên cứu của họ. Nói chung thông tin này không phù hợp với các nguồn tin, sách báo, tài liệu quốc tế.
  • Xưa nay có nhiều phóng viên chiến trường như David Duncan, Robert Shaplen, nhà báo, nhà nhiếp ảnh người Pháp Marc Riboud, nhân viên Bộ quốc phòng Hoa Kỳ Townsend Hoopes và các nhà nghiên cứu độc lập như tiến sĩ Noam Chomsky, nhà kinh tế học Edward Herman, giáo sư tiến sĩ Gerath Porter, tiến sĩ Alje Vennema, sử gia Stanley Karnow, cựu phóng viên Bưu báo Washington (Washington Post) Don Lux, giáo sư sử học Larry Berman v.v. đều đã góp phần vạch trần chiến dịch thông tin bôi nhọ này của Mỹ-ngụy.



Cựu chiến binh người Huế Hoàng Phủ Ngọc Tường, là nhân chứng trong mặt trận Huế năm Mậu Thân 1968, trả lời phỏng vấn về "cuộc thảm sát" này.


Truyền đơn dùng tiền bạc và lợi ích vật chất để chiêu dụ quân Giải phóng.


Truyền đơn 2990 - mặt sau. Chức vụ càng lớn, tiền thưởng càng nhiều.


Truyền đơn 2992


Truyền đơn 2993


Truyền đơn 7-377-68


Truyền đơn 7-617-68


Truyền đơn JUSPAO số 2500. Lưu ý các số tiền in trên truyền đơn là theo vật giá thời đó, nếu tính theo giá ngày nay thì đó là những số tiền lớn hơn.

Những tội ác chiến tranh được các nhân chứng và nhà nghiên cứu độc lập ghi nhận

Chiến tranh tâm lý của chính phủ Mỹ thường đi kèm với các tội ác chiến tranh của quân đội Mỹ để khủng bố tâm lý đối thủ, và đe dọa, gieo rắc sợ hãi cho nhân dân bản xứ, để họ không còn dám tiếp tế, giúp đỡ, nuôi giấu lực lượng kháng chiến bản địa.

Để tạo điều kiện dễ dàng, thuận tiện, tự do nhất cho sự hoạt động quân sự của binh sĩ Mỹ, chính phủ Hoa Kỳ đã tự đặt ra luật Free-fire-zone (vùng bắn phá tự do) trên đất Việt Nam. Theo Dictionary of the Vietnam War (Tự điển thuật ngữ về Chiến tranh Việt Nam) do cựu quân nhân Chiến tranh Việt Nam, nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Hoa Kỳ James S. Olson biên soạn, Greenwood Press xuất bản năm 1988, và Crimes of War: What the Public Should Know (Tội ác chiến tranh: Những gì công chúng nên biết) của nhà nghiên cứu sử học Lewis M. Simmons, do nhóm Roy Gutman xuất bản năm 1999, thì Vùng bắn phá tự do là vùng được bắn vào mục tiêu (bao gồm khu vực, người và vật) mà không cần được cho phép trước.

Tài liệu hướng dẫn chiến trường (field manual) FM 6-20 định nghĩa như sau: "Một khu vực được xác định cụ thể mà tại đó, mọi hệ thống vũ khí đều có thể bắn mà không cần chỉ thị của các sở chỉ huy.

Sở chỉ huy MACV tại Việt Nam đã dựa vào giả định rằng tất cả các lực lượng bạn đã rời khỏi khu vực, và đã thiết lập một chính sách xác định các vùng bắn phá tự do là các khu vực mà:

  • Bất cứ ai xuất hiện quanh đó đều được coi là một binh sĩ đối phương.
  • Binh lính được phép bắn bất cứ ai di động sau giờ giới nghiêm mà không cần phải chắc chắn rằng người này có thái độ thù nghịch.


Chính sách này đã vi phạm hiệp định Genève 1954, hiến chương Liên Hiệp Quốc và luật pháp quốc tế, cũng như những quy định liên quan đến tội ác chiến tranh và nhân quyền.

Đế quốc Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một khối lượng bom đạn, vật chất kỹ thuật chưa từng có trên một địa bàn hẹp; sử dụng mọi loại vũ khí hiện đại và dã man nhất; đưa số quân Mỹ vào miền Nam lên đến gần 60 vạn quân. Chính quyền Mỹ đã thực hiện mọi chiến lược, chiến thuật về chính trị, quân sự, ngoại giao, dùng những thủ đoạn chiến tranh tàn bạo nhất; bao vây phong tỏa, khủng bố toàn diện, tàn phá kinh tế, triệt hạ làng xóm, nông thôn và đô thị, tiêu diệt con người, hủy diệt môi trường thiên nhiên.... Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã đưa ra các chiến lược gia, các chuyên gia chính trị - quân sự - khoa học, các tướng lĩnh bậc nhất của họ để đấu trí với Việt Nam.

Số bom đạn quân đội Mỹ dùng để tàn phá Việt Nam là 7.822.547 tấn, gần gấp 3 lần bom Mỹ dùng trong Thế chiến II, hơn gấp 10 lần chiến tranh Triều Tiên, gấp 47 lần số bom Mỹ ném xuống Nhật Bản.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược này, Mỹ đã sử dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật quân sự mới nhất. Các vũ khí và phương tiện chiến tranh tiên tiến nhất luôn được đem vào sử dụng trên chiến trường Việt Nam (trừ vũ khí hạt nhân), như máy bay B-52, máy bay F-111, các loại trinh sát cơ động cao hỏa lực mạnh, các loại phương tiện gây nhiễu và chống nhiễu, các loại bom chùm, bom bi, bom napan, chất độc hóa học....

Trong lịch sử chiến tranh thế giới, chưa bao giờ và chưa có nơi nào trên trái đất đã diễn ra một cuộc tàn sát, hủy diệt kéo dài với quy mô rộng lớn trên một diện tích nhỏ hẹp như cuộc chiến tranh Mỹ đã tiến hành ở Việt Nam. Với việc sử dụng không hạn chế bom đạn, chất độc hoá học và những vũ khí hủy diệt hàng loạt, Mỹ đã đánh vào đời sống vật chất, tinh thần, văn hóa của dân tộc Việt Nam, tiêu diệt môi trường sống của sinh vật trên đất nước Việt Nam.


Biếm họa của họa sĩ Carlos Latuff về Chiến tranh Việt Nam, tác phẩm được hoàn thành năm 2000. Dịch câu trên hình: "Chúng tôi ở đây để đem đến dân chủ, hãy đọc lại lời tôi: Dân chủ".

Những hung thủ sát nhân trong vụ thảm sát làng Sơn Mỹ chấn động thế giới thời bấy giờ, sau này trả lời phỏng vấn đài phát thanh BBC 4 thì họ (trung úy William Calley, tướng William Peers v.v.) cũng phải thú nhận họ chỉ là những kẻ thừa hành, họ nhận lệnh cấp trên để gây ra những tội ác chiến tranh đó, và tuyên bố xin lỗi các nạn nhân và nhân dân Việt Nam.

Theo bài báo My Lai: A Question of Orders (Mỹ Lai: Một câu hỏi về những quân lệnh) trên tuần báo Time, đại tá Oran Henderson đã ra lệnh phải "xóa sạch chúng". Trong tác phẩm nghiên cứu My Lai: An American Tragedy (Mỹ Lai: Bi kịch của người Mỹ) của cựu quân nhân Chiến tranh Việt Nam, giáo sư luật học tại Đại học Missouri-Kansas City, luật sư William George Eckhardt, xuất bản năm 2000, tóm tắt lại bản báo cáo của tướng William Peers, trong đó ghi rõ chi tiết Trung tá Frank A. Barker ra lệnh cho các chỉ huy của Tiểu đoàn 1 đốt trụi làng, giết sạch con người và gà, chó, đốt sạch các kho lương thực và đầu độc các giếng nước.

Một số binh sĩ của Đại đội Charlie sau này đã khai rằng Đại úy Ernest Medina ra lệnh cho họ giết tất cả những người dân "khả nghi", bao gồm cả phụ nữ, trẻ em, người già v.v. họ đốt làng, phá hủy lương thực và đầu độc giếng nước.

Trả lời phỏng vấn BBC News Anh ngữ tháng 3 năm 2008, sĩ quan Celina Dunlop tự thú: "Đa phần lính trong đơn vị tôi không coi người Việt Nam là loài người.". Trong Thư viện Tội ác chiến tranh ở Mỹ, có tài liệu "Into the Dark: The My Lai Massacre" (Vùi sâu vào trong bóng tối: Cuộc thảm sát Mỹ Lai), trong đó có nói về một phi công trực thăng bay trên khu vực làng Mỹ Lai (Sơn Mỹ) đã thốt: "Quang cảnh phía dưới trông như một biển máu! Cái quái gì đang xảy ra thế?".

Lúc đầu, Mỹ che giấu thông tin và bịa đặt ra là mình chỉ giết cộng sản, giết lính, giết Việt Cộng, bịa ra những "cuộc đọ súng ác liệt", "trận đánh đẫm máu", nhưng sau đó một số người lính tham dự đã không kín miệng, sự việc rò rỉ, báo chí và phóng viên chiến trường khắp thế giới vào cuộc, dư luận quốc tế gây sức ép quyết liệt, nên quân đội Mỹ đành phải đưa 1 kẻ thủ ác "ra tòa". Nhưng chỉ xử qua loa chiếu lệ.

Chỉ huy Lữ đoàn Henderson là Trung úy William Calley, ông ta là người duy nhất phải ra tòa án binh từ trước tới nay sau hàng trăm vụ thảm sát lớn nhỏ do quân đội Mỹ và các đồng minh, chư hầu gây ra ở Việt Nam, như các cuộc thảm sát Sơn Mỹ, Thạnh Phong, Bình Hòa, Định Tường, Kiến Hòa, Gò Công, Hà My, Thái Bình, Phong Nhi và Phong Nhất v.v..

Ban đầu Calley "ra tòa" không phải về tội giết dân thường, hay tội ra lệnh tàn sát thường dân, mà về tội “che giấu thông tin”, sau đó được tuyên bố trắng án. 10 tháng sau, do dư luận Việt Nam, Hoa Kỳ và quốc tế làm lớn, áp lực chính trị căng thẳng, Mỹ đành phải lôi Trung úy Calley ra tòa và bị tuyên án “chung thân” nhưng chỉ 2 ngày sau đó Tổng thống Nixon đã ra lệnh thả Calley. Cuối cùng Calley chỉ phải chịu án 4 tháng ngồi tù quân sự tại bang Kansas. Theo tài liệu “War Crimes: Brutality, Genocide, Terror, and the Struggle for Justice” (“Tội ác chiến tranh: Khủng khiếp, Diệt chủng, Khủng bố, và sự tranh đấu vì công lý”) của tác giả Neier, NXB Random House, trong thời gian này hắn vẫn được bạn gái thăm nuôi và quan hệ tình dục không hạn chế trong nhà giam, được cung cấp thực phẩm đặc sản, nước giải khát, và bao cao su. Dư luận Mỹ và thế giới thì chỉ xem hắn là con Tốt thí, là con dê tế thần, là kẻ giơ đầu chịu báng.

Theo ghi âm radio của nhà báo quân đội Mỹ Robert Hodierne, một cựu binh Chiến tranh Việt Nam, người dẫn chương trình đài phát thanh BBC 4 Anh ngữ khi phỏng vấn một loạt những cựu binh Mỹ từng tham gia vụ tàn sát, hãm hiếp, tắm máu ở Sơn Mỹ đã kết luận: “Những vụ thảm sát này không chỉ đơn thuần là những hành vi của nhóm lính bất trị gây ra. Nó là những cuộc bắn giết được lên kế hoạch cẩn thận từ trước, với mục tiêu giết càng nhiều càng tốt, hủy diệt càng nhiều càng tốt”.

Trong các tài liệu, hồ sơ của quân đội Mỹ, Lữ đoàn 173, có báo cáo chi tiết về 142 vụ bắt giữ và ngược đãi người dân, trong đó có 127 trường hợp liên quan đến Lữ đoàn này. Tuy nhiên các giới chức lãnh đạo của Hoa Kỳ đã cố gắng bưng bít thông tin. Tờ Los Angeles Times đã đăng bài viết tố cáo các chỉ huy quân đội Mỹ đã che giấu tội ác của cấp dưới trong chiến tranh ở Việt Nam và phần lớn các quân nhân phạm tội đã không bị trừng phạt, hoặc chỉ bị phạt rất nhẹ, trong khi người tố cáo lại bị trả thù, ngược đãi, trù dập.

Một số thông tin khác liên quan đến tội ác quân đội Hoa Kỳ khi giải mật hồ sơ những vụ thảm sát tại Việt Nam, theo báo Los Angeles Times, Baltimore Sun ở Mỹ, Cơ quan Lưu trữ Hồ sơ và Tài liệu Quốc gia (NARA) của Hoa Kỳ đã có hơn 9.000 trang tư liệu, hồ sơ cung cấp chi tiết về 320 cuộc thảm sát lớn nhỏ đã được cơ quan điều tra của quân đội Mỹ xác minh và có những bằng chứng cụ thể. Nhưng trong 320 cuộc thảm sát này lại không có Thảm sát làng Sơn Mỹ, cuộc thảm sát ghê rợn và chấn động quốc tế, cho thấy còn rất nhiều tội ác thảm sát, trong đó có những vụ thảm sát tương đương mức độ như thảm sát Sơn Mỹ của quân đội Mỹ tại VN mà chưa được ghi nhận đầy đủ, những hồ sơ còn nhiều thiếu sót, còn nhiều cuộc thảm sát không được đưa vào hồ sơ, hoặc bị che giấu bưng bít thành công.

Các vụ việc còn lưu giữ trong hồ sơ NARA có thể kể đến: Bảy vụ thảm sát lớn từ 1967 đến 1971, mỗi vụ có ít nhất 137 người dân bị giết, 78 vụ thảm sát khác vào những người dân thường, mỗi vụ có ít nhất 57 người bị giết và 56 người bị gây thương tật, 15 vụ hãm hiếp hàng loạt, hiếp trước giết sau, 141 vụ tra tấn vô nhân đạo vào thường dân hoặc tù binh chiến tranh.

Ngoài 320 trận thảm sát được xác minh, hồ sơ còn có những tài liệu có liên quan đến hơn 500 hành động tàn ác mà các điều tra viên chưa thể chứng minh hoặc không được quan tâm đến.


Nhiều người đã điều trần trước Quốc hội Mỹ nói lên các lý do vì sao phải kết thúc Chiến tranh Việt Nam. Ông John Kerry là một trong những người đó.

Trung úy John Kerry (từng là ứng cử viên Tổng thống, hiện là Bộ trưởng Ngoại giao) đã làm chứng trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thượng Viện Mỹ năm 1971 như sau:

“Tôi muốn nói rằng vài tháng trước ở Detroit chúng tôi có một cuộc điều tra trong đó có 150 quân nhân đã được giải ngũ trong danh dự đã làm chứng cho những tội ác chiến tranh phạm ở Đông Nam Á. Họ nói những câu chuyện của thời đó là chính họ đã hãm hiếp, cắt tai, chặt đầu, kẹp giây điện từ những bộ máy truyền tin vào nhưng cơ quan sinh dục rồi quay điện, chặt chân tay, làm nổ tan xác, bắn chơi vào các thường dân, triệt hạ cả làng theo kiểu của Genghis Khan (Thành Cát Tư Hãn), bắn trâu bò, chó, làm trò chơi, đầu độc các kho lương thực và hầu như là tàn phá toàn diện miền quê Nam Việt Nam, ngoài sự tàn phá thông thường của chiến tranh và sự tàn phá thông thường và đặc biệt của những cuộc bỏ bom trên đất nước này”.


Một người lính Dù đốt nhà dân chỉ khoảng 20 cây số phía tây Sài Gòn (4/1/1966), trong một chiến dịch "tiêu thổ" mà Mỹ-ngụy hay áp dụng.

Những gì mà nhiều nhân chứng sống, trong đó có các nạn nhân của Mỹ, các phóng viên chiến trường ngoại quốc, những hung thủ lính Mỹ kể lại v.v. đều phù hợp với những gì Bác Hồ và cả những cựu chiến binh Nam Bộ nói về tội ác của giặc Mỹ ở nhiều khu vực dân cư miền Nam Việt Nam: "Chúng dùng chính sách 3 sạch: Giết sạch, phá sạch, đốt sạch."

Sách "Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tội ác chiến tranh xâm lược" do Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh và Nhà xuất bản Trẻ ấn hành vào năm 2003, sưu tầm và ghi lại lời chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu mạnh mẽ với ký giả quốc tế như sau:

"Vì Mỹ đất nước chúng tôi bị chia cắt làm đôi, đồng bào miền Nam chúng tôi đang lâm vào tình cảnh đau thương, nước sôi lửa bỏng. Vì Mỹ mà miền Nam Việt Nam có những tòa án phát xít, những luật lệ bạo ngược, những máy chém lưu động giết người khắp thành thị và thôn quê, có những trại giam khổng lồ, giam cầm và tra tấn hàng chục vạn người, giết chết hàng vạn người yêu hòa bình và yêu Tổ quốc. Vì Mỹ mà có những sư đoàn, binh lính với máy bay, xe tăng và đại pháo Mỹ đi càn quét liên miên, giết hại thường dân, đốt phá làng mạc. Nói tóm lại vì Mỹ mà miền Nam Việt Nam biến thành địa ngục trần gian".



Pháp trường giữa trung tâm Sài Gòn, nơi xảy ra những vụ hành quyết công khai trước sự chứng kiến của công chúng, nhằm mục đích đe dọa.


Tháp Mười Tầng giữa trung tâm Đồng Tháp Mười, được Mỹ-Diệm sử dụng làm đài quan sát, giám sát người dân Đồng Tháp.

Trước đây, năm 2005, nhà sử học, nhà báo Nick Turse đã hoàn thành quyển sách Kill Anything That Moves: U.S. War Crimes And Atrocities In Vietnam, 1965-1973 (Giết bất cứ thứ gì chuyển động: Tội ác chiến tranh tàn bạo của Mỹ ở Việt Nam, 1965-1973), Đại học Columbia xuất bản. Sách được đánh giá cao trên văn đàn một thời. Sách đã đoạt giải thưởng Ridenhour của National Press Club vào năm 2009

Lần này, sách Kill Anything That Moves: The Real American War in Vietnam (Giết bất cứ thứ gì chuyển động: Cuộc chiến thật sự của Mỹ ở Việt Nam) của cùng một tác giả, do Metropolitan Books mới xuất bản ngày 15 tháng 1, 2013, đã một lần nữa, đưa ra những hình ảnh chân thật đến trần trụi của quân đội Mỹ đối với người dân và đất nước Việt Nam. Tác phẩm này là một công trình phát triển từ quyển sách của tác giả năm 2005.

Trong tác phẩm mới, ông Nick Turse đã trích dẫn những hồ sơ của chính phủ Mỹ và Lầu Năm Góc cho thấy trong cuộc chiến ở Việt Nam, chính phủ Mỹ đã thi hành cuộc tàn phá hàng loạt vào con người và tài sản một cách có hệ thống trong suốt cuộc chiến.

Tiếp theo một số bài báo trước đây của Nick Turse, cuốn sách đưa ra những tư liệu cho thấy, những vụ hiếp dâm hàng loạt, tra tấn, xẻo thịt dân thường Việt Nam, trong đó có vụ thảm sát làng Mỹ Lai năm 1968 khiến hơn 500 dân thường bị giết, không phải là những hành động lầm lạc trong những giờ phút thiếu suy nghĩ, mà là chính sách cố sát và khủng bố có hệ thống trong cỗ máy chiến tranh của Mỹ. Các cuộc thảm sát tương tự vụ ở làng Mỹ Lai không phải sự cố bất thường, mà là một trong các "chiến dịch" thực hiện thường xuyên theo chính sách của Mỹ.

Theo tài liệu mà Turse có được, Mỹ Lai là một chiến dịch, không phải sự lầm lạc. Không chỉ nghiên cứu qua hồ sơ, tài liệu, Turse còn phỏng vấn rất nhiều tướng lĩnh và quan chức dân sự cao cấp, các nhà điều tra tội phạm, cựu chiến binh từng chứng kiến hoặc phạm tội ác. Turse cũng đã đến Việt Nam nhiều lần để phỏng vấn những người sống sót từ các cuộc thảm sát đó.

Quyển sách ngay từ chương 1 đã tường thuật từ thời kỳ quân đội Mỹ được huấn luyện ở các quân trường tại Mỹ (Fort Benning, Camp Lejeune, bang Georgia v.v.) thì tinh thần kỳ thị chủng tộc (như của tướng Douglas MacArthur) đã được nhồi nhét tối đa để giúp người tân binh Mỹ có thể giết kẻ thù - người Việt Nam - mà không hối tiếc hay ân hận. Cựu chiến binh Wayne Smith khi trả lời phỏng vấn của tác giả, đã kể lại rằng các huấn luyện viên quân đội không bao giờ gọi người Việt Nam là "Vietnamese", thay vào đó là những chữ tiếng lóng hạ cấp như "dinks", "gooks", "slopes", "slants", những từ ngữ không còn mang ý nghĩa tượng trưng cho con người văn minh, hay thậm chí là những con người bình thường, mà là những ngôn từ miệt thị, lăng mạ, hàm ý khinh khi người Việt như một giống dân hạ đẳng, "man di mọi rợ".

Trong vụ thảm sát Triệu Ái, khi trung úy Maynard quăng lựu đạn xuống hầm một căn nhà trong làng Triệu Ái, trung úy Bailey cho biết có con nít trong hầm ấy. Nhưng trung úy Maynard trả lời: "Kệ mẹ nó, rồi tụi đó lớn lên thì cũng trở thành Việt Cộng thôi."

Tiếp theo một số tác phẩm trước đây của ông Nick Turse, cuốn Kill Anything That Moves: The Real American War in Vietnam đã đưa ra những hồ sơ, tư liệu, dữ liệu cho thấy những vụ hủy diệt hàng loạt, dâm sát, tra tấn, cắt xẻo bộ phận cơ thể đối với các đối tượng dân thường Việt Nam từ nam đến nữ, từ bé đến già, từ cộng sản đến không cộng sản v.v. nhiều vụ không phải hành động lầm lạc trong những giây phút thiếu suy nghĩ, mà là chính sách có hệ thống trong cỗ máy chiến tranh của Mỹ thời đó. Cuộc thảm sát làng Mỹ Lai và nhiều cuộc thảm sát khác không phải là sự cố bất thường, mà là chiến dịch quân sự thực hiện theo chính sách quân sự Mỹ, nhằm khủng bố tinh thần và xóa trắng các pinkville (làng hồng), là những làng xã mà họ nghi ngờ là có giúp đỡ, tiếp tế cho quân kháng chiến. Khủng bố để răn đe "làm gương", gieo rắc sợ hãi để người dân và các làng bên lấy đó "làm gương", không còn dám nuôi giấu những người chống Mỹ.

Sau bao nhiêu phỏng vấn và tìm hiểu, ông đã cho biết: "Hàng trăm báo cáo mà tôi tập hợp được cùng với hàng trăm nhân chứng tôi từng phỏng vấn ở Mỹ và Đông Nam Á cho thấy một điều rõ ràng rằng, việc giết hại dân thường - dù một cách máu lạnh như ở Mỹ Lai hay một cách bàng quan vô cảm như ở Bình Long - đều rất phổ biến, diễn ra thường xuyên, và xuất phát từ chính sách chỉ huy của Mỹ.

Đây là những lời bình tiêu biểu về quyển sách còn rất mới này của nhà báo kiêm sử gia Nick Turse, qua những lời bình của các nhà phê bình của Mỹ càng cho thấy rõ hơn các tội ác cố sát có hệ thống, theo chính sách của chính phủ Mỹ, gây ra bởi quân đội Mỹ ở Việt Nam.

Nhà báo Steve Weinberg bình luận trên báo Star Tribune:

Trong cuốn sách mới, “Giết mọi thứ di động” (Mới Xuất Bản Ngày 15-1-2013, Metropolitan Books), ký giả Nick Turse đã chứng minh, sau một thập niên khảo cứu về những điều khó chấp nhận, là không quân và lục quân Mỹ đã giết thường dân ở ngoài Bắc và ở trong Nam theo một chính sách lặp đi lặp lại, ngày này qua ngày khác, tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác.

Sự tàn sát các dân thường ở Mỹ Lai bởi lính Mỹ đã được quần chúng biết đến nhiều, nhờ phần lớn vào sự điều tra của ký giả Seymour Hersh. Nhiều độc giả tìm biết về cuộc chiến tranh Việt Nam tưởng rằng Mỹ Lai là một việc xảy ra đơn độc, phần lớn phạm phải bởi một sĩ quan trẻ tên là William Caley. Không hẳn vậy, Nick Turse đã chứng minh rằng Mỹ Lai là vụ điển hình cho nhiều vụ tàn sát như vậy, trong một số vụ những người bị tàn sát là trẻ con, người già và phụ nữ. Trước khi giết, bao giờ cũng là hãm hiếp, tra tấn nhiều cách khác nhau, mà không có một quân nhân nào bị trừng phạt....


Học giả, nhà văn Jonathan Schell đã viết trong bài How did the Gates of Hell open in Vietnam? (Cửa địa ngục đã mở ở Việt Nam như thế nào?) trên báo Asia Times:

Tỉ mỉ gắn kết lại với nhau từ những thông tin mới được giải mật, những hồ sơ tòa án binh, những phúc trình của Lầu Năm Góc, và những cuộc phỏng vấn trực tiếp ở Việt Nam và ở Mỹ, cũng như những tài liệu trên báo chí cùng thời và tài liệu phụ, Turse phát hiện ra những tình tiết về sự tàn phá, cố sát, thảm sát, hiếp dâm, và tra tấn mà một thời được coi như là những tội ác lẻ tẻ thật ra là chuyện thường xuyên, cộng với một luồng tàn bạo liên tục, bộc lộ, năm này qua năm khác, trên khắp đất nước đó.

Nhà văn Tim O'Brien bình luận trên trang Amazon:

Không có cuốn sách nào mà tôi đọc trong vài thập niên làm tôi run rẩy như vậy với tư cách là một người Mỹ. Turse phanh phui ra thực chất một cuộc chiến quá ư tàn bạo hơn là những điều mà những người Mỹ ở trong nước được quyền biết. Turse vạch trần ra những chính sách chính thức khuyến khích binh sĩ Mỹ và không quân giáng sự khủng khiếp và đau khổ không thể hình dung được xuống người dân thường Việt Nam, theo đó là những sự bưng bít chính thức cũng kiên trì như Turse đã kiên trì trong nỗ lực điều tra trong cả một thập niên để chống lại những sự bưng bít này. Cuốn "Giết mọi thứ di động" là cuốn những người Mỹ phải đọc, vì những hàm ý trong đó về mức độ tàn bạo và dân thường chết chóc giáng lên họ và sự bưng bít trong những cuộc chiến gần đây của chúng ta chắc chắn sẽ xảy ra và làm chúng ta sửng sốt.

Nữ nhà báo Frances FitzGerald bình luận trên trang Amazon:

Nick Turse đã làm hơn nhiều người khác để chứng minh, với tài liệu, điều rất hiển nhiên: Những sự tội ác tàn bạo của Mỹ ở Việt Nam không phải là lẻ tẻ và tình cờ, mà là thường xuyên xảy ra khắp nơi và là kết quả không tránh được của chính sách quân sự của Hoa Kỳ.

Nữ giáo sư sử học Đại học New York Marilyn Young bình luận trên trang Amazon:

"Cuốn sách của Nick Turse là một tài liệu căn bản, một tường trình hùng hậu và đầy xúc động đến ngay vào vùng tim đen của cuộc chiến tranh ở Việt Nam: Sự tàn sát thường dân một cách có hệ thống, chứ không là một sơ xuất, là một thủ tục hành quân đúng tiêu chuẩn. Cho đến ngày nào bản tường trình lịch sử này được thừa nhận, chính sách này vẫn sẽ được tiếp tục dưới hình thức này hoặc hình thức khác trong những cuộc chiến mà nước Mỹ sẽ tiếp tục dính vào."

Giáo sư sử học Đại học Massachusetts Christian Appy bình luận trên trang Amazon:

"Từ cuộc nghiên cứu trong hơn một thập niên trong những hồ sơ mật Lầu Năm Góc và những cuộc phỏng vấn sâu rộng các cựu quân nhân Mỹ và những người Việt sống sót, lần đầu tiên Turse vạch rõ là những chính sách của Mỹ đã đưa đến kết quả là hàng triệu người dân thường vô can đã bị giết và bị thương. Với những chi tiết gây sốc, Turse vạch rõ những hệ thống mặc định của cỗ máy quân sự Mỹ đã làm cho những tội ác trong những đơn vị chính của Mỹ không thể tránh được. Cuốn "Giết Mọi Thứ Di Động" đưa chúng ta đến từ văn khố ở Washington đầy những những hồ sơ về sự dẹp bỏ các cuộc điều tra những tội ác của lính Mỹ cho tới những thôn xã ở miền quê Việt Nam mà người dân gánh chịu trong cuộc chiến, từ những trại huấn luyện lính Mỹ trong đó những người lính trẻ được dạy để thù ghét mọi người Việt cho đến các chiến dịch khát máu như chiến dịch Speedy Express mà một vị tướng, ám ảnh bởi cách đếm xác chết đã dẫn binh lính phạm phải điều mà một quân nhân tham dự gọi là “mỗi tháng một Mỹ Lai”."

Một số ngộ nhận thường thấy trong cuộc chiến

Phần này không nói tới những ngộ nhận ấu trĩ, cực đoan và có tính chất điên rồ như "nội chiến Nam Bắc tương tàn", "Mỹ không xâm lược", "vai trò Trung - Xô với Hoa Kỳ là như nhau, ngang nhau", "Việt Cộng kéo quân đến đâu là người dân bỏ chạy đến đó", "Tội ác cộng sản", "Mỹ-ngụy không ác, tại sơ ý trong chiến tranh thôi", "chất độc da cam là vô hại", "miền Bắc cưỡng chiếm và xâm lăng miền Nam" v.v. tồn tại trong đầu óc của một bộ phận nhỏ mà nhiều người khác đã lên án. Phần này chỉ nói về những ngộ nhận thấy nhiều ở cả những người đàng hoàng tử tế.

Ngộ nhận: Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 căng thẳng, dữ dội cho quân đội Hoa Kỳ hơn Chiến tranh Việt Nam.

Thực tế: Đối với quân đội Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam căng thẳng hơn Thế chiến II. Trung bình mỗi người lính bộ binh Mỹ trong chiến tranh Thái Bình Dương (thuộc Thế chiến II) tốn khoảng 40 ngày chiến đấu trong 4 năm. Nhưng trung bình mỗi người lính bộ binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam tốn khoảng 240 ngày chiến đấu trong 1 năm nhờ chiến thuật Trực thăng vận.

Ngộ nhận: Hiệp định Genève 1954 quy định chia cắt đất nước Việt Nam ra thành 2 quốc gia khác biệt. Câu cửa miệng thường nghe từ một số người thiếu thông tin là: "Hiệp định Geneve chia đôi đất nước" hay "Việt Nam bị chia cắt thành 2 miền theo hiệp định Geneve".

Thực tế: Bản thân hiệp định Genève 1954 không có điều khoản nào quy định chia cắt Việt Nam thành hai quốc gia. Hiệp định Genève 1954 chỉ công nhận giới tuyến quân sự tạm thời trong 2 năm để chờ tổng tuyển cử thống nhất đất nước, tạm chia làm 2 vùng tập trung quân sự cho quân đội hai phía Việt - Pháp tập kết, chứ không có ý nghĩa chia cắt về chính trị hay lãnh thổ.

Đây không phải là hiệp định chia cắt đất nước như một số người thiếu thông tin đã nhầm lẫn, mà trái lại, là hiệp định lập lại hòa bình, độc lập và thống nhất của 3 nước Đông Dương, Pháp rút quân trong 2 năm và tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam năm 1956.

Hiệp định Genève về Đông Dương năm 1954 có hai phần: Phần "Thỏa hiệp" và phần "Tuyên bố Cuối cùng" (Final Declaration). Phần "Thỏa hiệp", gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Henri Delteil, Quyền Tổng tư lệnh lực lượng Liên hiệp Pháp và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng quốc phòng VNDCCH. Phần này có những điều khoản chính như sau:

  • Thiết lập một đường ranh giới quân sự tạm thời tại vĩ tuyến 17 (Provisional Military Demarcation Line) để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam ở trên vĩ tuyến 17, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp (French Union), bao gồm lính Pháp và lính bản xứ ở dưới vĩ tuyến 17.
  • Sẽ có một cuộc tổng tuyển cử tự do trên toàn cõi Việt Nam vào năm 1956. Quân đội Pháp phải rời khỏi Việt Nam trong 2 năm.


Bản "Tuyên bố cuối cùng" gồm 13 đoạn, nói đến cả sự thống nhất và độc lập của 3 nước Đông Dương, trong đó có một đoạn đáng để ý và cực kỳ quan trọng, đoạn (6) (Paragraph [6]) là như sau: "Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI. Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam".

Và phần đầu của đoạn (7) nguyên văn như sau: "Hội Nghị tuyên cáo rằng, về Việt Nam, sự dàn xếp những vấn đề chính trị, thực hiện trên căn bản tôn trọng những nguyên tắc về nền độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ khiến cho người dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do căn bản, bảo đảm bởi những định chế dân chủ được thành lập như là kết quả của một cuộc tổng tuyển cử bằng phiếu bầu kín." Và cuộc tổng tuyển cử đó sẽ được tổ chức vào tháng 7 năm 1956.

Nói chung đây là các ý chính của hiệp ước Genève 1954:

  • Các nước tham gia hội nghị tôn trọng quyền dân tộc cơ bản là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam - Campuchia - Lào.
  • Ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương.
  • Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập trung quân sự. Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (bao gồm cả người miền Nam) tập kết về miền Bắc; Chính quyền và quân đội Liên hiệp Pháp (bao gồm cả người miền Bắc) tập kết về miền Nam.
  • 300 ngày là thời gian để chính quyền và quân đội các bên hoàn thành việc tập trung. Dân chúng được tự do đi lại giữa hai miền.
  • 2 năm sau, tức ngày 20 tháng 7 năm 1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất lại Việt Nam.


Người Mỹ vốn không ký vào hiệp định Genève 1954 để tránh bị ràng buộc pháp lý, bất lợi cho việc xâm lược và chia cắt Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của họ. Nhưng chính họ cũng đã "nói hớ" và vô tình cho thấy rằng hiệp định Genève 1954 không hề là hiệp định chia đôi Việt Nam.

Nhà sử học, chính trị học George McTurnan Kahin và John W. Lewis trong sách The United States in Vietnam: An analysis in depth of the history of America’s involvement in Vietnam (Hoa Kỳ ở Việt Nam: Một phân tích chuyên sâu về lịch sử can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam), do Delta Books xuất bản năm 1967, đã cho biết: "Trong bản Tuyên ngôn đơn phương (Unilateral Declaration) của Hoa Kỳ về Hội nghị Genève không có chữ nào nói đến "Bắc Việt Nam" hay "Nam Việt Nam". Tất cả những gì mà bên đại diện Mỹ nói đến là một Việt Nam".

Những bằng chứng ở trên đã cho thấy hiệp định Genève 1954 không chia đôi đất nước, mà ngược lại chính là quy định việc thống nhất đất nước. Chính sự xâm lăng và phá hoại tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo hiệp định Genève 1954 của Mỹ đã đưa tới sự chia đôi đất nước.

Ngộ nhận: Sau hiệp định Paris 1973 và với sự vắng bóng của đại quân Hoa Kỳ, chính Việt Nam đã vi phạm hiệp định tấn công và dứt điểm chính quyền Sài Gòn để kết liễu chiến tranh.

Thực tế: Ý trên thoạt nghe qua bên ngoài thì thấy có vẻ hữu lý, nhưng thực tế không phải vậy. Ý định của Việt Nam là ngưng bắn để có hòa bình, dùng đòn chính trị - ngoại giao đấu tranh đòi thực hiện tổng tuyển cử để thành lập chính phủ liên hiệp 3 thành phần, trong đó Việt Nam đã có sẵn 2 quân bài, vũ khí chính trị là Mặt Trận và Liên Minh, Thiệu hầu như chắc chắn phải chịu lép vế. Nên Việt Nam không/chưa cần ra đòn quân sự, trái lại đã truyền lệnh cho các đơn vị miền Nam phải ngưng bắn, án binh bất động.

Mỹ-Thiệu biết đây là giai đoạn khó khăn nên đã tận lực khai thác, lợi dụng sự án binh bất động này của quân Giải phóng mà "tiên hạ thủ vi cường" (đánh trước chiếm ưu thế), mong giành lấy thế thượng phong về quân sự trong giai đoạn mới.

Chữ ký của Mỹ-ngụy còn chưa khô mực vào hiệp định có những nội dung sau, thì họ đã mau chóng không giữ lời:

Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như đã quy định trong hiệp định Genève 1954.


Những hành động phá hoại hiệp định nói trên đã không cho thấy điều đó.

Hoa Kỳ phải hoàn toàn chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu, "cố vấn" và chuyên viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh, hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.


Mỹ tiếp tục can thiệp mạnh mẽ và nắm chính trị, quân sự, kinh tế ở miền Nam. Tiếp tục cung cấp vũ khí và tiền bạc cho Nguyễn Văn Thiệu. Duy trì chế độ thực dân mới. Rút đại quân nhưng để lại hàng vạn sĩ quan "cố vấn" và nhân viên quân sự mặc thường phục, khắp miền Nam vẫn đầy người Mỹ.

Sau năm 1973, lính Mỹ có quay lại Việt Nam trong các đợt rời rạc, đặc biệt là lính Thủy quân Lục chiến. Việc quân chính quy Mỹ rút đi và chấm dứt các chiến dịch quân sự trực tiếp do thực binh Mỹ tiến hành không có nghĩa sau năm 1973 không còn người Mỹ, sĩ quan Mỹ, quân nhân Mỹ nào ở Việt Nam. Mỹ cam kết trong hiệp định rằng sẽ phá đổ các căn cứ quân sự Mỹ, nhưng họ đã bội ước và chuyển giao lại cho quân đội Sài Gòn.

Các bên để cho nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do. Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền (chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn), hai quân đội (Quân Giải phóng miền Nam và quân đội Sài Gòn), hai vùng kiểm soát (vùng giải phóng và vùng tạm chiếm) và ba lực lượng chính trị (Cộng hòa miền Nam Việt Nam, chính quyền Sài Gòn, lực lượng thứ ba).


Mỹ-Thiệu phá hoại tổng tuyển cử, và cuộc bầu cử đã không bao giờ diễn ra được. Họ không từ bỏ ý định duy trì chủ nghĩa thực dân mới đối với miền Nam Việt Nam, cố gắng bám víu, sử dụng nơi đây như một căn cứ quân sự khổng lồ của Mỹ và là một thuộc địa kiểu mới. Họ đã tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh thực dân mới trên quy mô lớn. Mỹ đã tăng cường cung cấp quân sự và chu cấp kinh tế cho chính quyền bù nhìn, vẫn duy trì bộ máy chỉ huy cuộc chiến, với hàng vạn "cố vấn" và nhân viên quân sự người Mỹ đội lốt dân sự.

Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt.


Hàng vạn tù binh và dân thường Việt Nam đến ngày 30/4/1975 mới được tự do khi Côn Đảo và Phú Quốc được giải phóng. Trước ngày 30/4 các tù nhân, tù binh phía Việt Nam vẫn đầy ở Côn Đảo, Phú Quốc và nhiều nơi khác, không hề được trao trả theo hiệp định.

Ngộ nhận: Chính quyền Sài Gòn bị Mỹ bỏ rơi sau sự kiện ký kết hiệp định Paris 1973. Sau khi Hoa Kỳ rút đại binh về nước thì đã cúp hoặc giảm lớn viện trợ ngay cho chính quyền Sài Gòn. Trong khi đó, Liên Xô, Trung Quốc và khối xã hội chủ nghĩa tăng cường viện trợ hoặc vẫn duy trì viện trợ như cũ cho Hà Nội.

Thực tế: Nhà báo, nhà sử học người Mỹ Gabriel Kolko, tác giả cuốn sách Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience (Giải phẫu một cuộc Chiến tranh: Việt Nam, Hoa Kỳ, và trải nghiệm lịch sử hiện đại) do NXB Pantheon Books New York, ấn hành năm 1985, cho biết sau khi hiệp định Paris 1973 được ký kết thì người Mỹ đã cho ông Thiệu mọi phương tiện để vi phạm hiệp định, họ cam kết tiếp tục trợ cấp đầy đủ về kinh tế và quân sự cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu; Mỹ công nhận chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là "chính quyền hợp pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam"; không thừa nhận chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và thành phần chính trị thứ ba, như đã thỏa thuận trong hiệp định Paris.

Theo nguồn của NXB Thông Tấn, Hà Nội, viện trợ quân sự tài khóa 1973-1974 của Mỹ dành cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là 1,26 tỷ USD theo giá thời đó, tương đương 6,74 tỷ USD ngày nay.

Theo thống kê của chuyên gia kinh tế học Douglas C. Dacy trong sách Foreign Aid, War, and Economic Development: South Vietnam, 1955-1975 (Viện trợ nước ngoài, Chiến tranh, và Phát triển kinh tế: Nam Việt Nam, 1955-1975), do Đại học Cambridge (Anh) xuất bản năm 1986 và 2005, ngay sau năm 1973 (sau khi hiệp định Paris 1973 được ký kết), đến năm 1974, bên cạnh duy trì viện trợ quân sự thì Hoa Kỳ đã tăng viện trợ kinh tế cho chính quyền Sài Gòn 23,8%.

Theo các tài liệu của Quân đội Nhân dân Việt Nam, sau năm 1973, sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam đã giảm đột biến, tổng số tấn vũ khí và thiết bị quân sự được viện trợ giảm từ 171.166 tấn/năm trong thời kỳ 1969-1972 giảm xuống còn 16.415 tấn/năm trong thời kỳ 1973-1975.

Theo văn kiện "Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm qua", do Bộ ngoại giao CHXHCN Việt Nam giải mật và NXB Sự Thật xuất bản năm 1979, giai đoạn sau năm 1973 là lúc mà Trung Quốc ngày càng bộc lộ ý đồ phản bội, đi đêm với Mỹ sau lưng nhân dân Việt Nam, cũng như trước đó họ đã cố tình can thiệp vào hội nghị Paris về Việt Nam nhưng bị Việt Nam từ chối.

Ngoài ra, theo các tướng tá cũ của quân đội Sài Gòn như Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Chánh Thi, thì vào những ngày cuối tháng 4/1975, Trung Quốc đã thông qua tướng Francois Vanussème, tùy viên quốc phòng và an ninh của Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn để chuyển đến "tổng thống" Dương Văn Minh ý định can thiệp của Trung Quốc để cứu chính quyền Sài Gòn đang trong cơn nguy kịch, giữ lại tình trạng chia cắt Việt Nam. Người Trung Quốc muốn thông qua người Pháp là vì ông Dương Văn Minh là một người thân Pháp, đã từng phục vụ trong quân đội Pháp.

Ngộ nhận: Nguyễn Văn Thiệu lấy cắp 16 tấn vàng và "báo chí Hà Nội có chủ trương khai thác đề tài này để rêu rao tuyên truyền bôi xấu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu".

Thực tế: Theo cựu nhân viên tình báo CIA chi nhánh Sài Gòn Frank Snepp trong sách Decent Interval (Khoảng thời gian tao nhã), do Penguin Books xuất bản năm 1980, thì đêm 25 tháng 4, các nhân viên CIA đã đưa Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu ra đi với danh nghĩa là đặc sứ của "Việt Nam Cộng hòa" đến Đài Bắc (Đài Loan) để phúng điếu Tưởng Giới Thạch (qua đời ngày 5 tháng 4). Và khi đó Thiệu không còn quyền lực gì đối với 16 tấn vàng vẫn nằm nguyên vẹn trong hầm chứa của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Còn dư luận thì vẫn bán tín bán nghi về tin đồn ông Thiệu mang vàng đi, dù đã có tuyên bố cải chính của chính quyền Sài Gòn ngày 16/4/1975.

Trong Hồ sơ mật dinh Độc Lập, tác giả Nguyễn Tiến Hưng viết: Nguyễn Văn Hảo vào gặp "tổng thống" Trần Văn Hương và dọa rằng: "Nếu tổng thống cho phép chuyển số vàng ấy ra ngoại quốc thì trong trường hợp tướng Minh (tức ông Dương Văn Minh) lên thay, tổng thống sẽ bị lên án là phản quốc!". Ông Hương đồng ý giữ vàng lại. Sáng ngày 24 tháng 4 (một ngày trước khi ông Thiệu rời Việt Nam), ông Hảo điện cho cố vấn kinh tế đại sứ quán Mỹ Denny Ellerman, nói rằng: "Tổng thống" Trần Văn Hương đã quyết định hoãn vô thời hạn việc chuyển vàng ra khỏi Việt Nam, cho đến khi một chính phủ mới được thành lập.

Đại sứ Graham Martin ngạc nhiên trước tin này, nhưng ông ta cũng không cho Trần Văn Hương hủy bỏ lệnh ấy mà quyết định tạm để vàng ở lại vì nó có thể nâng cao vị thế nào đó của chính quyền Sài Gòn khi thương lượng với phía kháng chiến. Ông lệnh cho chiếc máy bay tiếp tục đợi cho đến nửa đêm ngày 27 tháng 4. Sau này khi trả lời phỏng vấn Ts. Nguyễn Tiến Hưng ngày 27/3/1985, Martin kể: "Vào lúc chót, tôi có nghĩ đến việc liên lạc với người bạn cũ ở Thái Lan là tư lệnh không quân Dhawee Chulasapaya. Sau đó, kêu gọi thêm một số thủy quân lục chiến Thái Lan bay qua Sài Gòn để giải phóng số vàng, mang nó đi. Nhưng chỉ nghĩ thế thôi…. Vàng vẫn còn lại ở đó".

Như vậy, Nguyễn Văn Thiệu không có và không cần lấy cắp 16 tấn vàng đem đi vì tài sản của ông ta, kể cả bên Mỹ, là đã dư dả cho ông ta và con cháu sống sung túc cả đời. Báo chí cách mạng Việt Nam cũng chưa bao giờ có chủ trương tuyên truyền về một tay sai Mỹ nên không có chủ trương khai thác vụ 16 tấn vàng để bôi nhọ Thiệu.

Từ đầu tháng 4 năm 1975, khi Nguyễn Văn Thiệu vẫn còn tại vị, một số tờ báo nước ngoài đã bắt đầu đăng tải tin về kế hoạch chuyển 16 tấn vàng ra nước ngoài với sự ám chỉ về một âm mưu chiếm đoạt của ông ta. Chính báo giới Sài Gòn là những cơ quan truyền thông đầu tiên đưa tin về sự kiện này. Tuy có báo đăng tuyên bố cải chính của chính quyền Sài Gòn, nhưng sau khi ông Thiệu đã ra đi, ngày 28 tháng 4, báo Độc Lập (một tờ báo của ngụy quyền) đã trích dẫn lại một bản tin của hãng thông tấn Reuters về chuyến ra đi của ông Nguyễn Văn Thiệu: "Tin Reuters ghi nhận liền sau khi đoàn người Nguyễn Văn Thiệu cùng tùy tùng xuống phi cơ và được đưa vào phòng khách danh dự, một số hàng hơn 10 tấn cũng đã được cất xuống theo". Các báo chí khác, trong và ngoài nước, đã viết tường thuật nói ông Thiệu đã bỏ trốn với một số lượng vàng lớn lấy đi từ ngân khố của chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Trong buổi họp báo và trả lời phỏng vấn được thực hiện vào ngày 16/6/1990 tại Orange County, California, để "giải oan" cho mình, Nguyễn Văn Thiệu đã thừa nhận việc "cộng sản đăng báo khen ngợi những tên viên chức ngân hàng phản bội" và "những tên công chức ngân hàng đã dùng vàng tâng công với cộng sản rằng không có tấn vàng nào bị mất trên báo chí cộng sản" (trong đó có ông Huỳnh Bửu Sơn, người giữ chìa khóa kho vàng, từng làm việc trong ban lãnh đạo Nha Phát hành Ngân hàng Quốc gia). Như vậy, có thể thấy rằng không có chủ trương khai thác chuyện 16 tấn vàng để tuyên truyền chống ông Thiệu trên báo chí.

Ngay sau khi giải phóng các nhân vật coi giữ tài chính của ngụy quyền đã ra hợp tác ngay với chính quyền cách mạng. Báo chí cách mạng khi đó đã đăng tải các phỏng vấn đầy đủ rằng nhờ tài trí của quân dân và công lớn của những viên chức ngụy quyền giác ngộ cách mạng nên nhân dân đã không bị mất 1 xu.

Như thế rõ ràng là không có chính sách tuyên truyền nói xấu Thiệu hay tuyên truyền gì về 16 tấn vàng. Sở dĩ tin đồn thất thiệt này được vang xa có lẽ một phần do nhân dân vốn đã không ưa Thiệu, rồi cứ thế một đồn mười, mười đồn trăm, rồi sau đó nhiều nhà báo do không nắm vững nên cũng viết lại theo các lời đồn. Nhưng nhiều phần là do chính những quan chức tham nhũng trong bộ máy ngụy quyền vì tham lam nên đã ghen ăn tức ở mà nghi ngờ và tố nhau ăn cắp vàng. Thời điểm ấy quả thật nhiều kẻ muốn thừa cơ lấy cắp vàng đi trốn, song không ai ngờ quân Giải phóng lại đánh nhanh và giải quyết nhanh đến như vậy, họ chưa kịp làm thì cách mạng đã đánh tới. Bọn họ ghét nhau và rất ghen ghét Thiệu nên chính bọn họ đã đồn đại lên, cộng với sự oán ghét của quần chúng Sài Gòn dành cho Thiệu và ngụy quyền Sài Gòn, nên tiếng xấu càng đồn xa.

Sau đây là một số ngộ nhận thường nghe, thường thấy từ những người Mỹ và cả một bộ phận công chúng quốc tế:

Ngộ nhận: Những tội ác của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam đúng là rất phổ biến, nhưng đó là do sơ ý, vô tình, vô ý thức, giết nhầm, các hung thủ bị ảnh hưởng từ tác động của ma túy, tâm thần, sự khốc liệt của chiến tranh. Họ công nhận các tội ác và họ lên án nó, nhưng đồng thời họ ngộ nhận nguyên nhân tội ác. Họ lầm tưởng những hành động cố sát là những hành động nông nỗi xuất phát từ một trạng thái tâm lý bất bình thường, mất cân bằng, sự khủng hoảng về tư tưởng, tâm lý, tinh thần trong lửa đạn.

Thực tế: Phần ngay ở trên: "Những tội ác chiến tranh được các nhân chứng và nhà nghiên cứu độc lập ghi nhận" đã cho biết thực tế chuyện gì đã xảy ra. Phần lớn những tội ác chiến tranh đó từ đâu mà có.

Ngộ nhận: Quân đội Hoa Kỳ tuy thua cuộc chiến, nhưng Lục quân Hoa Kỳ chưa từng thua Việt Cộng một trận đánh nào trên chiến trường miền Nam Việt Nam.

Thực tế: Giáo sư Đại học DeAnza (Mỹ) Michael Kelley trong bài tham luận tháng 7 năm 1998 "Myths & Misconceptions: Vietnam War Folklore" (Truyền thuyết & quan niệm sai lầm: Các "sự tích dân gian" về Chiến tranh Việt Nam), đã viết về ngộ nhận này như sau:

"Truyền thuyết này có nguồn gốc từ sự thiếu hiểu biết hơn là sự phân tích hợp lý. Nó hoàn toàn bỏ qua thực tế là kẻ thù của chúng ta đã tiến hành chiến tranh du kích phụ thuộc vào chiến thuật 'bắn rồi chạy' (hit-and-run) thiết kế để tránh ưu thế hỏa lực áp đảo của Mỹ. Những người ủng hộ thuyết này dựa trên những thước đo cổ điển của lý thuyết chiến tranh thông thường, nghĩa là, bất cứ ai nắm giữ mặt đất sau khi kết thúc trận đánh thì là người chiến thắng. Nhưng xem sự sáng suốt của các chiến thuật thực tế ở đó (Việt Nam), sẽ là công bằng để nói rằng người Mỹ đã thua nhiều trận đánh.

Trong khi sự thật là quân đội Mỹ đã chiếm được mặt đất tại thời điểm kết thúc trong hầu hết các trận đánh, kẻ thù thường chọn thời điểm buông tha vị trí đó sau khi đã hoàn thành các kế hoạch chiến lược quan trọng. Và sau đó vài giờ thì chiến trường thường xuyên vẫn bị người Mỹ bỏ rơi. Kẻ thù gần như luôn luôn buông ra lãnh thổ ngay sau khi nó đã gây cho quân đội Mỹ lúng túng và bực bội.

Tại Việt Nam, chiến thắng tốt nhất có thể được đo bằng cách xem một lực lượng đạt được mục tiêu của mình trong bất kỳ hoạt động nào. Trên cơ sở đó, quân Bắc Việt / Việt Cộng có thể đã thành công nhiều hơn so với người Mỹ, thực tế là khoảng 85% các hoạt động quân sự, tất cả các địa điểm đánh nhau đã được khởi xướng bởi kẻ thù. Thậm chí nếu tính theo kiểu Mỹ thông thường thì người Mỹ vẫn đã thua một số lượng đáng kể các trận đánh. Trong các cuộc đụng độ lớn đầu tiên của cuộc chiến tranh trong các thung lũng sông Ia Đrăng (Tây Nguyên), tháng 11 năm 1965, ở đó, cả một tiểu đoàn 1 Kỵ binh của Mỹ đã thật sự bị tiêu diệt khi nó vấp vào một trung đoàn Bắc Việt. Khoảng 155 người đã thiệt mạng và 121 người bị thương chỉ trong vài giờ giao tranh ngắn ngủi. "Chiến thắng" chắc chắn không phải là từ ngữ trên môi của bất kỳ người Mỹ nào đủ may mắn để tồn tại trong đám cháy đó.

Vào ngày 2/7/1967, trong quá trình hoạt động, hai tiểu đoàn 1 và 9 Thủy quân Lục chiến đã bị một trung đoàn Bắc Việt phục kích. Chỉ có một trung đội duy nhất còn sống sót để kể lại câu chuyện. Nó không nhiều trong số ít những người tự coi mình là kẻ chiến thắng. Các tổn thất đáng kể như vậy đều khá phổ biến trong suốt cuộc chiến. Trong những cuộc tấn công, quân Bắc Việt / Việt Cộng thường thành công hoàn toàn trong mục tiêu của họ."


Ngộ nhận: Lính Mỹ chỉ gây tội ác với dân, còn đối với lính Sài Gòn thì xử tốt, nhân đạo, nhân văn. Lính Mỹ và lính Sài Gòn phối hợp tác chiến ăn ý.

Thực tế: CIA đã đứng sau giật dây đảo chính, lật đổ các "nhà lãnh đạo" trong ngụy quyền. Máy bay ném bom Mỹ thường xuyên "dội bom nhầm" lên trên quân lính, sĩ quan, tướng tá ngụy, thủ tiêu bằng nhiều hình thức khác nhau, gây ra nhiều cái chết mờ ám cho cả những quan chức cao cấp ngụy quyền, ví dụ các tướng Đỗ Cao Trí, Nguyễn Văn Hiếu. Trong khi chưa bao giờ có các trường hợp không quân ngụy "dội bom nhầm" lên quân Mỹ. Ngay cả trong ngụy quân, ngụy quyền, nhiều người cũng cho rằng đây là những động thái trừ khử những người/nhóm Mỹ không ưa, hoặc để răn đe làm gương cho những người khác. Chuẩn tướng quân đội Sài Gòn Nguyễn Hữu Hạnh, trả lời phóng viên của đài BBC Việt ngữ vào năm 2010, đã nói như sau: "Tôi nói thật, trong tất cả các đời tổng thống Việt Nam Cộng hòa, ai mà Mỹ không ưa thì người ấy bị hất đổ ngay."

Giáo sư Micheal Kelley nói trên đã viết tiếp về ngộ nhận này như sau:

Tôi không có ý định xúc phạm các độc giả gốc Việt Nam, nhưng một số những gì sẽ được thảo luận ở đây có thể là rất khó chịu cho họ nghe. Những gì sẽ được nói là những khái quát dựa trên những quan sát thực tế của tôi về các thái độ và hành vi của lính Mỹ tại Việt Nam. Có thể có những trường hợp ngoại lệ, nhưng báo cáo này là một nỗ lực trung thực để định lượng những gì tôi đã thấy và trải nghiệm.

Trước khi phục vụ ở đó, hầu hết các nhân viên Mỹ rất ít hiểu biết về đất nước Việt Nam, hay có ít nhiều kiến ​​thức về các nền văn hóa và phong tục dân tộc của nó. Sự thiếu hiểu biết đó trở nên phức tạp bởi sự thất bại nghiêm trọng của quân đội để cung cấp nội dung đào tạo trong vấn đề đó. Người lính bộ binh trung bình có lẽ chỉ tốn 1 hoặc 2 giờ được đào tạo về nền văn hóa và lịch sử Việt Nam. Vẫn có những người khác không hề được đào tạo gì về đất nước họ sẽ sinh sống và chiến đấu trong ít nhất một năm. Kết quả là, các thái độ và hành động của người Mỹ đã bị biến dạng bởi những sự hiểu biết rất hạn chế về các dân tộc Việt Nam.

Đáng buồn thay, tôi đã có thể nói rằng hầu hết quân nhân Mỹ phát triển sự mất lòng tin cơ bản và sự căm ghét đối với Việt Nam nói chung, người Bắc hay Nam Việt Nam không quan trọng. Các thái độ thô lỗ, kiêu căng và cao ngạo của Mỹ tôi nghĩ rằng đó là công bằng để nói rằng người Việt Nam cũng phát triển một tâm lý ghét Mỹ ngược lại.

Các ý kiến ​​của quân đội Mỹ về quân lính VNCH hầu như đều là tiêu cực, nếu không nói là hoàn toàn khinh ghét. Các sĩ quan VNCH đã đạt được thứ hạng là nhờ sự giàu có và ảnh hưởng chính trị hơn là kỹ năng thực tài. Kết quả quân đội VNCH đã lười biếng và không đủ năng lực theo tiêu chuẩn quân đội Mỹ.

Trên thực tế, trong hầu hết các trận giao tranh, QLVNCH tránh tiếp xúc địch như một niềm tin tôn giáo và vô cùng nhút nhát trong việc giải quyết chiến trường với kẻ thù. Những chuyện này đã gây thất vọng và tức giận cho quân đội Hoa Kỳ. Nhiều binh sĩ Mỹ ngày nay vẫn giữ quân lực VNCH trong một tâm lý khinh bỉ lớn, bởi vì họ không muốn xuất hiện để đấu tranh cho sự tồn tại của họ.

Trong nhiều trường hợp, QLVNCH thậm chí không dám tiếp cận kẻ thù và dựa dẫm, lệ thuộc vào quân đội Mỹ bất cứ khi nào có thể. Quan chức chính phủ Việt Nam Cộng hòa thường xuyên bị xem thường bởi những người lính trung bình. Tham nhũng là phổ biến và được che đậy vụng về. Rõ ràng chúng tôi thấy có rất nhiều quan chức chính phủ quan tâm hơn vào việc tham lam bòn rút hơn việc đánh nhau và giành thắng trước Việt Cộng.

Trong nhiều trường hợp, nó có vẻ rõ ràng rằng các quan chức Việt Nam Cộng hòa đã chơi cả hai cách, vẫy cờ Việt Nam Cộng hòa trong một tay và lá cờ Giải phóng ở tay kia. Mặt khác, trong khi những người lính trung bình của Mỹ có thể không thích đối phương, song hầu hết đều có một sự tôn trọng khả năng chiến đấu, lòng can đảm và quyết tâm của họ. Nhiều người trong số chúng tôi đều kinh ngạc trước những khó khăn và chịu đựng của đối phương. Rõ ràng hầu hết bọn họ là những người đàn ông và phụ nữ cực kỳ dũng cảm, ngoan cường, tháo vát và thật sự tin tưởng vào sự nghiệp của họ. Trái lại, quân đội VNCH đã không sở hữu những thuộc tính đó và còn tương phản đáng ngạc nhiên, hiện thực đó đã đặt câu hỏi nghiêm trọng trong tâm trí của chúng tôi về sự tham gia của những người lính chúng tôi. Nhiều hơn một vài người trong chúng ta đã đem cảm giác khó chịu của Mỹ đi quá xa. Đáng buồn thay, nội dung cơ bản của tâm lý phân biệt chủng tộc đó đã chiếm ưu thế và thường điều chỉnh thái độ và hành động đối với người Việt Nam của chúng tôi. Đó là hoàn cảnh không may làm lem luốt quan hệ của chúng tôi với người Việt. Nó cũng dẫn đến nhiều hiểu lầm, những sai lầm ngu ngốc và trong một số trường hợp để lại hậu quả rất bi thảm."
Xuất phát từ tâm lý thù địch với người Việt Nam, kể cả trong hàng ngũ lính ngụy, và tâm lý chán nản, bất lực trước một cuộc chiến khó khăn vô vọng tìm không ra cách thắng, theo Gs. Micheal Kelley, các hạ sĩ quan Mỹ thời đó hay nói đùa với nhau một câu cửa miệng như sau: "Để thắng cuộc chiến này, tất cả những gì chúng ta cần làm là đặt tất cả người Nam Việt Nam trên tàu thuyền ở biển Nam Trung Hoa và sau đó tấn công hạt nhân cho hai miền thành than. Sau đó, chúng ta cho tàu chìm."

[...]

Comments

Kỳ 3: 30/4/1975, ngày toàn thắng của dân tộc Việt Nam
(tiếp theo kỳ 2)

Tháng 4 vốn là một tháng đầy ý nghĩa với nhiều ngày lễ lớn như lễ Phật Đản và lễ Phục Sinh, gắn liền với hai tín ngưỡng lớn trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; ngày giỗ tổ Hùng Vương, gắn liền với lịch sử dân tộc Việt Nam; ngày sinh của nhà cách mạng Vladimir Lenin, gắn bó với lịch sử cách mạng Việt Nam; ngày thế giới phòng chống bom, mìn (4/4); ngày tưởng niệm các nạn nhân chiến tranh hóa học (29/4), ngày lễ quốc tế được công nhận bởi Liên Hiệp Quốc.


Trên đường về tiếp quản thủ đô sau đại thắng Điện Biên Phủ, chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm và dâng hương ở Đền Hùng, tại đây Người ngồi kể chuyện về Hùng Vương và căn dặn các chiến sĩ thuộc Đại đoàn 308: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".

Lịch sử đôi khi thật kỳ diệu. Ngày 30/4 của đúng 30 năm trước ngày 30/4/1975 kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, năm 1945, phát xít Đức sụp đổ, mở đường cho việc kết thúc Thế chiến II, mối đe dọa của chủ nghĩa phát xít được xóa bỏ. Ngày 30/4 năm 1492, Tây Ban Nha ủy nhiệm nhiệm vụ thám hiểm cho Christopher Columbus, mở đầu cuộc bành trướng không giới hạn khắp châu Mỹ và thế giới, tạo tiền đề thành lập liên bang Hoa Kỳ và mở rộng hệ thống thuộc địa toàn cầu.

Ngày 30/4 năm 1975 kết thúc cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam càng ý nghĩa hơn khi chúng ta nhìn lại những ngày 30/4 trước đó trong lịch sử Hoa Kỳ:

  • Ngày 30/4/1789 - Tại hội trường Liên bang ở Phố Wall, New York, tướng George Washington tuyên thệ chức vụ tổng thống và trở thành tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ.
  • Ngày 30/4/1803 - Thực dân Pháp thất thế, đành phải bán rẻ lãnh thổ Louisiana cho đế quốc Mỹ với giá 15 triệu USD, tăng gấp đôi diện tích Hoa Kỳ.
  • Ngày 30/4/1812 - Lãnh thổ Orleans trở thành tiểu bang thứ 18 của Hoa Kỳ với tên Louisiana.
  • Ngày 30/4/1900 - Đúng 75 năm trước ngày 30/4/1975, đảo quốc Hawaii chính thức trở thành tiểu bang thuộc lãnh thổ Hoa Kỳ, với thống đốc là Sanford B. Dole.



Lili'uokalani, nữ hoàng cuối cùng của vương quốc Hawaii


Chữ viết của một người dân Sài Gòn vào tờ lịch ngày 30/4/1975 lịch sử

Chiến dịch Mùa Xuân - Chiến dịch Hồ Chí Minh

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 diễn ra trong 55 ngày đêm bắt đầu từ ngày 5/3/1975 cho đến ngày 30/4/1975 khi những quân nhân Mỹ cuối cùng rời khỏi lãnh thổ Việt Nam và "tổng thống" Dương Văn Minh lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng và hạ lệnh buông súng, giải giáp.

Nhóm chiến dịch này bao gồm ba chiến dịch nối tiếp nhau: Chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng và cuối cùng là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngoài ra, còn có những chiến dịch nhỏ hơn nhưng diễn ra trên những địa bàn chiến lược như Long Khánh - Xuân Lộc, Trường Sa và các đảo trên Biển Đông, các trận đánh trên các tuyến phòng thủ từ xa của giặc như Tây Ninh - An Lộc - Dầu Tiếng, Phan Rang - Ninh Thuận.


Nữ biệt động Sài Gòn dẫn đường cho đoàn xe bộ đội tiến vào nội đô

Chiến dịch Mùa Xuân chủ yếu do quân dân miền Trung và miền Nam tiến hành, các lực lượng từ miền Bắc chỉ có Binh đoàn Quyết Thắng vào Nam tham gia trong những ngày cuối (chiến dịch Hồ Chí Minh), bao gồm: Các sư đoàn bộ binh 312, 320B, sư đoàn phòng không 367, lữ đoàn xe tăng 202, trung đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299, trung đoàn thông tin.

Sư đoàn 308 thuộc Binh đoàn Quyết Thắng cùng với 5 sư đoàn và 9 trung đoàn đều ở lại bảo vệ miền Bắc, đề phòng Trung Quốc manh động và Hoa Kỳ đột kích. Qua nhiều lời kể từ các nhân chứng sau này (Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh v.v.) đã cho thấy nguy cơ đối với miền Bắc những ngày này thật ra không phải là Hoa Kỳ, mà lại chính là Trung Quốc. Cho thấy sự sáng suốt của quyết định giữ quân ở lại bảo vệ miền Bắc, đề phòng mọi thế lực.


Ngụy quân "di tản chiến thuật" từ Thuận An đến Đà Nẵng (tháng 3/1975).

Chỉ trong khoảng 32 giờ, quân dân Việt Nam đã tiêu diệt thành công hệ thống phòng ngự chiến lược mới của giặc ở miền Trung. Quân khu I của ngụy bị xóa sổ. Sau trận thua to ở Đà Nẵng, quân ngụy hoàn toàn tuyệt vọng. Mỹ-Thiệu bàng hoàng. Tướng Fredrick C. Weyand được tổng thống Gerald Ford cử sang miền Nam chỉ huy, đốc thúc xây dựng hệ thống phòng thủ mới từ Phan Rang đến Cần Thơ nhằm bảo vệ đầu não Sài Gòn - thành trì cuối cùng của họ.

Ngày 3/4/1975, sau những cơn giận mất bình tĩnh của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James R. Schlesinger và ngoại trưởng Henry Kissinger ở Washington vì sự chần chờ quá lâu của Đại sứ Graham Martin ở Sài Gòn (vì chính phủ Mỹ muốn tạo ra vẻ "người Mỹ đàng hoàng ra đi"), Tổng thống Gerald Ford ra lệnh dứt khoát tìm cách hoàn thành, kết thúc cuộc di tản nội trong tháng 4/1975. Sau đó, Nhà Trắng lại ra lệnh cho cầu hàng không ngưng mọi hoạt động sau khi Martin đã rời đi.


Tổng thống Mỹ Gerald Ford (phải) nghe cố vấn Henry Kissinger (trái) và phó tổng thống Nelson A. Rockefeller (giữa) báo cáo tình hình chiến sự và kế hoạch di tản người Mỹ cùng các nhân viên người Việt khỏi Sài Gòn (28/4/1975).

Từ ngày 10/4/1975 Bộ chỉ huy quân Giải phóng đã tuyên bố với người Mỹ: "Quân giải phóng lúc nào cũng sẵn sàng tạo điều kiện cho 'cố vấn' Hoa Kỳ rút về nước bình an vô sự", nhưng hàng ngàn người Mỹ vẫn tranh nhau bỏ chạy, lính ngụy nhiều trường hợp phải bám càng trực thăng Mỹ để chạy theo trong cơn hoảng loạn.

Trên tuyến phòng thủ Phan Rang - Xuân Lộc, tướng Fredrick Weyand cho lấy Phan Rang làm tuyến phòng thủ từ xa và muốn dùng nơi này làm bàn đạp để phản kích, chiếm lại những vùng đã mất. Lúc đó bản phúc trình từ Chính phủ đưa lên Quốc hội Hoa Kỳ về một khoản viện trợ quân sự khẩn cấp 722 triệu USD đang được bàn thảo. Theo Weyand, quân đội ngụy ít nhất cũng phải 1 lần chiến đấu, nếu thắng được 1 trận thì càng tốt; nếu tiếp tục rút lui nữa, sẽ làm mất phiếu ủng hộ của Quốc hội Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, đến ngày 16/4/1975, tuyến phòng thủ Phan Rang bị quân đội Việt Nam phá vỡ chỉ trong vòng 24 giờ. Thế tiến của quân Giải phóng như chẻ tre, từ ngày 17 tháng 3 đến ngày 3 tháng 4, các tiền đồn của Mỹ-ngụy tại Tây Ninh, An Lộc, Dầu Tiếng, Chơn Thành, Định Quán lần lượt thất thủ nhanh chóng, quân Giải phóng tiến quân đến đâu là quân ngụy đầu hàng hoặc bỏ chạy đến đó. Quân ngụy tại mặt trận Xuân Lộc rơi vào thế hở cả ba sườn phía Bắc, phía Tây và Tây Nam, rồi sau đó cũng thất thủ.

Ngày 18/4/1975, tổng thống Gerald Ford ra lệnh di tản người Mỹ khỏi Việt Nam. Ngày 20/4/1975, chính phủ Mỹ buộc Nguyễn Văn Thiệu từ chức, hy vọng có thể thuyết phục được Quốc hội thông qua gói viện trợ khẩn cấp để cứu nguy chính quyền Sài Gòn, vì Thiệu lâu nay tuy được lòng chính phủ Mỹ, nhưng không được lòng nhiều người trong Quốc hội Mỹ.

Ngày 23/4/1975, dù Thiệu đã từ chức nhưng vẫn không có sự đổi ý từ Quốc hội, Chính phủ Mỹ đành tuyên bố chiến tranh kết thúc. Tuy nhiên, đến ngày 24/4/1975 Mỹ vẫn cố vớt vát, đề nghị xin ngưng bắn.... Các diễn biến dồn dập đó đều diễn ra cùng lúc với 5 cánh quân bao gồm khoảng 27 vạn bộ đội chủ lực và 18 vạn dân quân - tự vệ - du kích đang chiếm lĩnh các vị trí xuất phát tiến công thẳng vào thành trì cuối cùng của giặc xâm lược.

Ngày 26/4/1975, cuộc tổng công kích bắt đầu, các mục tiêu tấn công chìm trong bão lửa. Người Mỹ vội vàng di tản. Các sư đoàn ngụy quân bị đánh tan tành, người bị bắt sống, người đầu hàng, người cởi quân phục lẩn trốn vào các nhóm tàn quân đang bỏ chạy. Mỹ tìm kế hoãn binh, ngụy xin được thương lượng.... Nhưng tất cả đã không thể ngăn cản được sức tiến công của các lực lượng vũ trang nhân dân trong trận đánh cuối cùng để kết thúc cuộc chiến tranh ròng rã 30 năm (1945-1975).


Các binh lính Thủy quân lục chiến Mỹ cố thủ để người Mỹ và các nhân viên người Việt trong Cơ quan Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ (DAO) ở Sài Gòn di tản

Chính phủ Mỹ trước đó đã đưa một ông lão có tiếng trong sạch không tham nhũng là Trần Văn Hương lên thay Nguyễn Văn Thiệu để cố gắng thuyết phục Quốc hội Hoa Kỳ vốn đã quá chán nản với tình trạng tham nhũng của ngụy quyền Sài Gòn, nhưng rốt cuộc vẫn không thuyết phục được họ thông qua gói viện trợ quân sự khẩn cấp để giữ lại ngụy quyền.

Sau đó, theo các dàn xếp của các lực lượng thứ ba thực chất do cách mạng lãnh đạo, với danh nghĩa "lật đổ chính quyền của Thiệu mà không có Thiệu" (ý nói đây vẫn là chính quyền Nguyễn Văn Thiệu với đầy đủ bản chất và nhân sự của nó, chỉ khác mỗi người đứng đầu), và theo sự vận động của đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam Dương Thanh Nhựt, em trai ruột của ông Dương Văn Minh, ông Dương Văn Minh đã lên làm "tổng thống" trên danh nghĩa từ ngày 28 tháng 4 để lo việc đầu hàng.


Quân nhân Mỹ đang chờ đợi trực thăng đến cứu thoát (29/4/1975)


Trực thăng Mỹ trên Tòa Đại Sứ

Những người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam từ sáng ngày 30/4/1975. Theo hồ sơ SSN/0802 USMC, bản báo cáo After Action Report (Báo cáo Hậu hành động) của thiếu tá lục quân James H. Kean, báo cáo các hành động của Lục quân Hoa Kỳ trong thời gian 17/4/1975 - 7/5/1975 và tác giả George R. Dunham trong tác phẩm US Marines in Vietnam: The Bitter End, 1973-1975 (Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ ở Việt Nam: Sự kết thúc cay đắng, 1973-1975), nằm trong loạt sách về lịch sử Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ ở Việt Nam, do Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ xuất bản năm 1990, tường thuật các hành động của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ trong giai đoạn 1973-1975, thì diễn biến như sau:

Ngày 30/4, Graham Martin rời Việt Nam từ 4:58 sáng. 7 giờ sáng những người lính cuối cùng của Mỹ bắt đầu rời khỏi Việt Nam. 7:53 sáng chiếc trực thăng chiến đấu cuối cùng của Mỹ chở 10 người lính Thủy quân Lục chiến Mỹ bay khỏi Việt Nam và đáp xuống căn cứ quân sự USS Okinawa ở Nhật.

Sau khi 10 người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam, thì đến 11:30 trưa, ngụy quyền sụp đổ và ngụy quân tan rã, ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, nhưng đã đến tình thế này thì dù ông Minh có tuyên bố đầu hàng hay không thì cũng không thay đổi kết quả cuộc chiến. Hai tướng Mỹ cuối cùng bỏ chạy khỏi Việt Nam là Fredrick C. Weyand và John Murray, ngay từ trước chiến dịch Hồ Chí Minh.

Giám đốc CIA Tom Polgar, cùng ngồi với Đại sứ Graham Martin trên chiếc CH-53 trong cuộc tháo chạy, đã ghi lại nhận xét của mình ngày hôm đó: "Đó là một cuộc chiến tranh lâu dài và khó khăn mà chúng ta đã thua. Thất bại độc nhất của lịch sử Hoa Kỳ chắc không báo trước sức mạnh cường quốc toàn cầu của nước Mỹ đã chấm dứt. Nhưng ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải gặp lại lịch sử".

Tổng thống Gerald Ford, ngày 15/6/2000, khi trả lời thư của Colin Broussard, cựu binh Thủy quân Lục chiến Mỹ tại Việt Nam, đã tâm sự về một thực tế thất bại của Chiến tranh Việt Nam: "Tháng 4/1975 chắc chắn là một thời điểm khắc nghiệt, mãi mãi không làm phôi pha nỗi đau buồn nhất trong cuộc đời hoạt động chính trị của tôi. Tôi cầu xin để những tổng thống Mỹ sau này không bao giờ phải đứng trước những quyết định tàn nhẫn như tôi đã từng. 25 năm qua, tôi vẫn còn ray rứt và mãi mãi khóc thương cho 2.500 lính Mỹ tới bây giờ vẫn còn mất tích. Mỗi nước đều có hồn dân tộc được tôi luyện qua gian khổ. Họ có thể bị quân đội nước ngoài đô hộ, nhưng linh hồn của một dân tộc vĩ đại như Việt Nam thì mãi mãi sáng ngời."


Thắm tình quân - dân

Trong dinh tổng thống ngụy, một số chiến sĩ cách mạng được chuẩn tướng Sài Gòn Nguyễn Hữu Hạnh dẫn đường tiến thẳng vào phòng khánh tiết gặp Dương Văn Minh và nội các Vũ Văn Mẫu. Khi thấy người của cách mạng đến, ông Dương Văn Minh đứng dậy nói: "Chúng tôi đang đợi các ông để bàn giao". Đại úy Phạm Xuân Thệ tuyên bố: "Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Các ông không còn gì để bàn giao".

Ông Dương Văn Minh chấp nhận thực tế này, trao khẩu súng lục cho đại úy Phạm Xuân Thệ và đến đài phát thanh đọc bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời chấp nhận đầu hàng của ông Minh.


Vệ binh ngụy có nhiệm vụ bảo vệ dinh tổng thống


Binh lính ngụy ở nông thôn quy hàng

Từ sáng ngày 30/4 cho đến lúc này tại trung tâm Sài Gòn đã có 34 điểm nổi dậy của dân chúng và lực lượng tại chỗ. Sau 11 giờ 30 phút ở 41 điểm lực lượng chủ lực chưa tới, song lực lượng tại chỗ tiếp tục nổi dậy.

Tại quận 3, tại phường cư xá Đô Thành, lúc 12 giờ ngày 30/4 khi lực lượng võ trang miền Nam tiến vào quận 3, ông Tư và ông Công, người địa phương, cùng một cán bộ biệt động của Z15 (lữ đoàn 316) dùng loa kêu gọi nhân dân nổi dậy, kêu gọi lính ngụy đầu hàng.


Cán bộ Mặt Trận làm công tác tư tưởng với tù binh ngụy


Chiến sĩ chăm sóc cho tù binh bị thương

Ngay chiều 30 tháng 4 hàng trăm đồng bào tình nguyện xin nhận công tác theo yêu cầu của cách mạng, hàng trăm người khác tự động ra đường thu gom cờ quạt, vũ khí, quân trang, quân dụng của lính ngụy ném bỏ đầy đường. Đồng bào treo đầy cờ Giải phóng trước nhà riêng, công sở và tự nguyện góp lương thực cho bộ đội.

Tại phường Bàn cờ quận 3, các cơ sở mật của cách mạng phát động quần chúng nổi dậy chiếm giữ các kho tàng của ngụy quyền, giữ gìn trật tự, an ninh, làm vệ sinh đường phố. Đồng bào thu gom được khoảng 3 ngàn khẩu súng các loại đem nộp cho cách mạng.

16 giờ ngày 30/4, phường Bàn Cờ tổ chức mít tinh, hàng chục ngàn người dân Sài Gòn dự lễ mừng chiến thắng và giới thiệu những người tốt vào chính quyền mới. Đến 17 giờ, thành lập xong các bạn phụ trách phường, khóm và tổ chức cho những người trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền ra trình diện.



Trưa 30/4, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cùng các sinh viên, giáo viên, trí thức Sài Gòn, theo lời kêu gọi của Mặt Trận, đi tới Đài phát thanh và phát biểu trực tiếp trên sóng, nhạc sĩ xúc động phát biểu và kêu gọi:

Tôi, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, rất vui mừng và cảm động gặp và nói chuyện với tất cả các anh em nghệ sĩ ở miền Nam Việt Nam này. Hôm nay là cái ngày mà mơ ước của tất cả chúng ta đó là ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn tất cả đất nước Việt Nam này cũng như những điều mơ ước (của) các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất (thì) hôm nay chúng ta đã đạt được những kết quả đó. Tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam này hãy… và hợp tác chặt chẽ với chánh phủ lâm thời miền Nam Việt Nam.

Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước. Chúng ta là người Việt Nam. Đất nước này là đất nước Việt Nam. Chúng ta ở trên đất nước của chúng ta.

Chính phủ Cách mạng lâm thời sẽ đến đây… những cái thái độ hòa giải tốt đẹp. Các bạn không có lý do gì sợ hãi để mà ra đi cả. Đây là cơ hội đẹp đẽ và duy nhất để đất nước Việt Nam thống nhất và độc lập.

Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước từ mấy chục năm nay. Tôi xin tất cả các bạn thân hữu cũng như những người chưa quen với tôi ở lại và chúng ta kết hợp chặt chẽ với Ủy ban cách mạng lâm thời để góp tiếng nói xây dựng Miền Nam Việt Nam này…gặp tất cả các anh em ở trong Ủy ban Cách mạng Lâm thời.

Hiện tại chúng tôi đang ở đài phát thanh Sài Gòn. Và tôi mong các bạn chuẩn bị sẵn sàng để đến đây góp tiếng nói, để lên tiếng để tất cả mọi người đều yên tâm và tôi xin tất cả các anh em sinh viên, học sinh của Miền Nam Việt Nam này hãy yên ổn kết hợp lại với nhau; khóm phường đều kết hợp chặt chẽ để đón chờ Ủy ban Cách mạng Lâm thời đến. Xin chấm dứt.

Tôi xin hát một bài. Hiện tại ở trên đài thì không có đàn guitar, tôi xin hát lại cái bài Nối vòng tay lớn. Hôm nay, thật sự cái vòng tay lớn đã được nối kết:

Rừng núi dang tay nối lại biển xa
Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà
Mặt đất bao la
Anh em ta về
Gặp nhau mừng như bão cát
Quay cuồng trời rộng
Bàn tay ta nắm
Nối tròn một vòng Việt Nam….


Hân hoan trong niềm vui chiến thắng nên dù quá vội không mang theo đàn, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vẫn cất vang lời bài "Nối vòng tay lớn", một bài hát ý nghĩa và thích hợp để hát trong thời điểm đó. Và đây cũng chính là bài hát đầu tiên được phát lên sóng của Đài Phát thanh Sài Gòn ngày 30/4/1975.


Người dân Sài Gòn xuống phố chào đón quân Giải phóng (30/4/1975).


Dân Sài Gòn xuống đường chào mừng quân Giải phóng

Buổi chiều 30/4, ông Nguyễn Hữu Thái, một nhân chứng lúc đó, đã kể lại với phóng viên Tiến Dũng của báo VNExpress năm 2011: "Chiều 30/4/1975, phần lớn người dân Sài Gòn đều túa ra đường để được tận hưởng bầu không khí hân hoan, phấn khởi của ngày thành phố được giải phóng. Những người nghe tin tức qua Đài Phát thanh Sài Gòn cảm thấy xúc động dâng trào khi nghe Trịnh Công Sơn hát 'Nối vòng tay lớn' trong giờ phút lịch sử của dân tộc".


Bà má miền Nam cùng các cháu vui ngày đất nước giành lại được độc lập hoàn toàn


Bà má Sóc Trăng nghe tin chiến thắng


oOo

Chỉ trong vòng 55 ngày, chiến dịch Mùa Xuân đã đuổi những người lính Mỹ cuối cùng ra khỏi Việt Nam và đánh sập ngụy quyền Sài Gòn, đây là một trong những chiến dịch thần tốc nhất trong chiến sử thế giới, một trong những sự sụp đổ nhanh nhất trong lịch sử thế giới, và sự tháo chạy hỗn loạn, vô trật tự, vô nguyên tắc, vô tổ chức và vô kỷ luật nhất trong quân sử thế giới.


Binh lính ngụy chuẩn bị ném bỏ quân phục và bỏ chạy.


Binh lính ngụy ném bỏ quân phục trên nhiều đường phố và làm những hành động mà cựu nhân viên tình báo CIA chi nhánh Sài Gòn Frank Snepp gọi là "cuộc tháo chạy tán loạn".

Nguyên nhân của hiện tượng đó chủ yếu là vì Hoa Kỳ đã giảm bớt viện trợ quân sự xuống còn hơn 700 triệu USD (tương đương với khoảng 4,6 tỷ USD ngày nay). Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển của chế độ Sài Gòn, giáo sư đại học Harvard tại Mỹ trong sách Từ tòa Bạch Ốc đến dinh Độc Lập đã đưa ra nhiều thông tin gián tiếp cho thấy khả năng tồn vong của ngụy quyền Sài Gòn hoàn toàn nằm trong bàn tay người Mỹ và phụ thuộc hoàn toàn vào sự cưu mang của chính phủ Hoa Kỳ, cụ thể bản báo cáo mà Nguyễn Văn Thiệu đã đọc:

"Nếu mức viện trợ quân sự là 1,4 tỷ USD (giá thời đó) thì có thể giữ được các vùng đông dân cư tại bốn vùng chiến thuật.

Nếu mức viện trợ quân sự xuống 1,1 tỷ USD thì có thể không giữ được Quân khu I.

Nếu mức viện trợ quân sự còn 900 triệu USD thì khó giữ được Quân khu I, Quân khu II.

Nếu viện trợ quân sự chỉ còn 750 triệu USD thì chỉ có thể phòng thủ một vài khu vực.

Nếu viện trợ quân sự chỉ còn 600 triệu USD thì chỉ còn có thể giữ được Sài Gòn và vùng châu thổ sông Cửu Long."


Nhưng rốt cuộc Hoa Kỳ đã viện trợ 700 triệu USD mà không một khu vực nào cầm cự nổi, kể cả Sài Gòn và vùng châu thổ sông Cửu Long. Và đó chỉ là viện trợ quân sự, chưa tính viện trợ kinh tế. Cũng theo tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, có lúc Nguyễn Văn Thiệu đã nói cay đắng với một dân biểu Mỹ rằng: "Mới vài ngày trước đây là một tỷ, bây giờ còn 700 triệu, tôi làm gì được với số tiền này? Như là chuyện cho tôi 12 đô la và bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất từ Sài Gòn đi Tokyo." Sau đó, Thiệu nhờ tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đi xin thêm tiền và sau này thuật lại trong quyển sách trên, ông Nguyễn Tiến Hưng đã ví việc này với "cái nhục của kẻ đi cầu xin".


Gia đình đoàn tụ. Bà má ôm người con tham gia kháng chiến thành công, nay trở về gặp lại.


Bắc Nam sum vầy. Bà mẹ miền Bắc (trái) và bà má miền Nam (phải) ôm nhau trong ngày toàn thắng.


1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những trùng hợp kỳ diệu của lịch sử

Nhìn lại cuộc trường kỳ kháng chiến "2 trong 1" kéo dài 30 năm của dân tộc (1945-1975), thì có thể thấy một hiện tượng kỳ lạ: Hai chiến dịch quyết định thắng bại cuộc chiến là chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến dịch Mùa Xuân đều diễn ra 55 ngày đêm. Một chiến dịch đưa tới kết quả toàn thắng giặc Pháp, giải phóng miền Bắc, giải phóng nửa nước, và một chiến dịch đưa tới kết quả toàn thắng giặc Mỹ, giải phóng nốt những vùng tạm chiếm còn lại ở miền Nam, hoàn thành sứ mạng lịch sử giải phóng dân tộc, giành lại hoàn toàn độc lập, hòa bình, thống nhất và sạch bóng quân xâm lược, đều là 55 ngày.

Trong cả hai chiến dịch lịch sử đó, đại tướng Võ Nguyên Giáp đều có vai trò quyết định, với hai quyết định chiến thuật quân sự sáng suốt trong đời:

  • Quyết định rút pháo ra để thay đổi chiến thuật "đánh nhanh - giải quyết nhanh" sang "đánh chắc - tiến chắc", đánh bóc vỏ từ từ trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Đây là quyết định làm nên chiến thắng, vì nếu không rút pháo ra mà cứ theo đà, theo thế tiến đánh kiểu thí mạng thì sẽ tổn thương to lớn và khả năng rất cao là sẽ thất bại.
  • Quyết định chỉ thị "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng", trong chiến dịch Mùa Xuân. Trong khi tình hình bình thường lúc đó nếu tiến quân theo lối thông thường thì tốc độ đã không nhanh như vậy, có thể phải tốn nhiều ngày hơn, nhưng đại tướng Võ Nguyên Giáp cố gắng thu gọn và chỉ thị phải đánh trong 3 ngày, đẩy lên cao nhất yếu tố tốc độ.



Bức điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gởi quân dân miền Nam ngày 7/4/1975.

Nhiều tài liệu, sách báo trong và ngoài nước cho rằng trong chiến dịch Mùa Xuân nếu quân đội Việt Nam không cố gắng tăng tốc hành quân lên nhanh nhất có thể, khai thác và tận dụng triệt để sự hoảng loạn tinh thần, sụp đổ tâm lý, không còn lòng nào chiến đấu của ngụy quân mà xốc tới thừa thắng xông lên, làm cho các hệ thống phòng ngự của địch bị sụp đổ dây chuyền như domino, hàng hàng lớp lớp đào ngũ bỏ chạy, mà chậm chạp trì trệ, thì ngụy quân có khi đã trấn tĩnh lại, lập lại trật tự hàng ngũ và kịp thời thành lập các quân đoàn án ngữ, phòng thủ các điểm hiểm yếu, then chốt, câu giờ để quân đội Mỹ có thời gian mà hành sự. Ngày nay, các tài liệu giải mật còn cho thấy thêm yếu tố Trung Quốc. Họ có thể thừa cơ "đục nước béo cò" nếu quân Việt Nam không đủ nhanh chân nhanh tay.

Như vậy, nếu không có chỉ thị đó của đại tướng Võ Nguyên Giáp về việc tăng tốc hành quân lên tối đa nhất có thể, khai thác và tận dụng cao nhất tình hình thuận lợi và sự hoảng loạn sụp đổ của quân địch, thì có thể xảy ra những hiện tượng sau:

  • Quân đội ngụy có thời gian hoàn hồn lại và tái bố trí, điều chỉnh lại lực lượng, hợp quân thành lập các quân đoàn liên kết phòng thủ các tuyến trọng yếu.
  • Hoa Kỳ có thời gian tính toán, quyết định, hành động, trực tiếp can thiệp để giữ ngụy quyền không bị sụp đổ.
  • Trung Quốc sẽ thấy sự thuận lợi, dễ dàng nổi máu tham, và nếu họ nổi lòng tham thật thì họ sẽ có thời gian để "đục nước béo cò". Nếu hải quân Trung Quốc đến quần đảo Trường Sa trước thì chưa chắc hải quân Việt Nam giành lại được.


Với những khó khăn như vậy thì dù thành công giải phóng được miền Nam thì cũng sẽ chịu thương vong lớn hơn nhiều cho binh lính cả ta và địch cũng như dân thường, chưa kể những tổn thất vật chất, có khi phải mấy tháng sau mới hoàn toàn giải phóng được hết miền Nam, lúc đó quần đảo Trường Sa có lẽ cũng đã bị Trung Quốc chiếm đóng từ lâu. Chưa kể Hoa Kỳ có thể nghĩ tới chuyện kéo quân quay lại.

Do đó, hai quyết định lịch sử đó của đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hai thời điểm lịch sử, có tính quyết định trọng đại đó, có thể nói đã quyết định kết quả hai cuộc chiến tranh giữ nước lớn nhất, khó nhất trong lịch sử Việt Nam. Nếu không có hai quyết định đó thì không ai biết chuyện gì xảy ra, diễn biến lịch sử tiếp theo là gì, có thể diễn biến vẫn không thay đổi, nhưng nhiều máu đổ hơn, nhiều người ngã xuống hơn là điều không nghi ngờ gì.


Người dân Nha Trang cung cấp lương thực cho sư đoàn 3 quân Giải phóng.

2. Các âm mưu "đục nước béo cò" của Trung Quốc - Khmer Đỏ

Thời điểm này Trung Quốc và đàn em Khmer Đỏ đã bộc lộ ý đồ "đục nước béo cò" muốn nhân cơ hội chiến sự ở Việt Nam mà mưu tính lấn chiếm đất đai, biển đảo, thậm chí duy trì chia cắt Việt Nam. Tuy nhiên, hiện tượng này có nguồn gốc từ các thời điểm trước đó, và dần leo thang đến tháng 4 năm 1975.

Năm 1970, CIA Mỹ cung cấp cho Nhà Trắng và Lầu Năm Góc nhiều tài liệu mật về sự mâu thuẫn sâu sắc giữa Trung Quốc và Liên Xô. Từ những hồ sơ này, các nhà phân tích CIA kết luận: Bất đồng Xô - Trung sẽ kéo dài. Ngoại trưởng Mỹ khi đó là Henry Kissinger đã nhanh chóng chớp thời cơ để bắt đầu lộ trình phục hồi quan hệ với Trung Quốc. Bắt đầu từ những năm 1970, Trung Quốc và Hoa Kỳ bắt đầu "đi đêm" với nhau, mà điểm nhấn là chuyến thăm Bắc Kinh của tổng thống Nixon năm 1972, trong lần gặp gỡ này Nixon và mật đàm với Mao Trạch Đông về nhiều vấn đề, không những về quan hệ song phương, mà còn về quan hệ đa phương trên phạm vi toàn cầu và khu vực, đặt trọng tâm vào bán đảo Đông Dương và khu vực Đông Nam Á, trong đó có tâm điểm Việt Nam. Sau đó là nhiều cuộc mật đàm giữa ngoại trưởng Kissinger và thủ tướng Chu Ân Lai, chủ tịch Hoa Quốc Phong và các lãnh đạo Trung Quốc, như nhiều hồ sơ được bạch hóa về sau, cũng như các hồi ký của cựu Tổng thống Mỹ Richard Nixon, ngoại trưởng Henry Kissinger và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara đã đề cập đến những vụ "đi đêm", mật đàm với Trung Quốc.

Năm 1974, tình hình chiến trường càng lúc càng tiêu cực, bi quan, người Mỹ cho rằng khó giữ nổi miền Nam Việt Nam, sớm muộn gì cũng thua và mất miền Nam Việt Nam, nên họ đã thỏa thuận nhượng lại Hoàng Sa cho Trung Quốc để đổi lấy những lợi ích chính trị, kinh tế, và củng cố, thắt chặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, hình thành thái cực Mỹ - Trung chống Việt - Xô. Đó là thời kỳ Trung - Xô xung đột và Trung Quốc "liên Mỹ đả Việt" (聯美打越).

Đó là lý do vì sao khi hải quân Trung Quốc được Mỹ bật đèn xanh bất ngờ tấn công vào Hoàng Sa của Việt Nam đang dưới sự bảo hộ của Mỹ, hải quân ngụy sau khi buộc phải tự vệ thì có lệnh phải triệt thoái, và họ đã chạy khỏi và bỏ lại toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, các lực lượng hải quân hùng hậu quanh đó bị Nguyễn Văn Thiệu hạ lệnh án binh bất động, những tàu chiến đang trên đường ra Hoàng Sa thì bị gọi quay về. Hạm đội 7 của Mỹ đã không chống lại cuộc tấn công của Trung Quốc.

Trong trận đánh nhỏ trước khi rút lui, theo thống kê của Thời báo New York trong loạt bài về sự kiện này năm 1974 ngay sau khi sự kiện xảy ra, thì quân đội Sài Gòn có 4 tàu chìm hoặc hư hại, 138 quân lính bị thương vong hoặc bị bắt sống, quân đội Trung Quốc có 4 tàu bị hư hại, 18 quân lính thương vong. Sau trận đánh, Trung Quốc đã chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa cho đến ngày nay.

Có câu "đánh tớ phải nể mặt chủ", Trung Quốc đã an bài trước với Hoa Kỳ sau hậu trường, được Mỹ gật đầu, thì mới có thể ngang nhiên, công khai đánh thẳng vào quần đảo Hoàng Sa ngay trước mắt Hạm đội 7 của Mỹ như vậy. Lúc đó Trung Quốc không muốn và không dại gì làm mất lòng Mỹ trong khi quan hệ hai nước đang phục hồi và phát triển tốt đẹp. Mỹ vừa hợp tác, vừa lợi dụng Trung Quốc để chia rẽ khối xã hội chủ nghĩa châu Á và gây hại cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam. Tóm lại, Trung Quốc đã sớm biết từ trước là Hạm đội 7 của Hoa Kỳ sẽ không chống lại cuộc tấn công của họ.

Trung Quốc nói là để "tự vệ", nhưng thực chất đó là một hành động xâm lược, một hành vi "đục nước béo cò", thừa lúc miền Nam Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa đang bị Mỹ xâm lược để trục lợi. Đó là một hành động xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam để về trước mắt: cướp Hoàng Sa, về lâu dài: khống chế Việt Nam từ mặt biển và từng bước thực hiện ý đồ bá chủ Biển Đông, biến Biển Đông thành "ao nhà" ở sân sau của mình.

Hành động xâm lược của Trung Quốc đã có tính toán từ trước và được sự thỏa hiệp của Hoa Kỳ. Vì vậy, khi đó người Mỹ ở Sài Gòn đã trao đổi với Nguyễn Văn Thiệu và hải quân Mỹ ở gần đó đã được lệnh nhắm mắt làm ngơ cho Trung Quốc tấn công quần đảo Hoàng Sa, đồng thời các lực lượng hải quân ngụy đang trên đường tiếp viện, tái chiếm Hoàng Sa đều bị bắt quay về đất liền.

Ngày 20/1/1974, chính phủ Tây Ninh của Cộng hòa miền Nam Việt Nam chính thức phản đối hành động này của Trung Quốc. Ngày 26/1/1974, chính phủ Tây Ninh tuyên bố lập trường 3 điểm về việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải. Ngày 14/2/1974, Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là chủ quyền của Việt Nam.


Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông và Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon


Chủ tịch Đặng Tiểu Bình và Tổng thống Jimmy Carter

Tháng 4 năm 1975, đứng trước thực tế Trung Quốc đã dè chừng và dồn quân phòng thủ Hoàng Sa, đồng thời cho hải quân, cùng có hành động như lực lượng hải quân của Đài Loan, Indonesia, Philippines, Malaysia âm mưu xâm chiếm các hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa một khi quân ngụy Sài Gòn giải tán. Hải quân Nhân dân Việt Nam đã khẩn trương triển khai chiến dịch Trường Sa và các đảo trên Biển Đông, để giải phóng hoặc tiếp quản thật nhanh những vùng này trước khi Trung Quốc và các nước ngoài "đục nước béo cò".

Chiến dịch nhỏ này là một phần của chiến dịch Mùa Xuân năm 1975, diễn ra trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1975. Mục tiêu của chiến dịch là quần đảo Trường Sa và các đảo ven biển miền Nam mà quân Sài Gòn đang đồn trú và một số đảo do quân Khmer Đỏ chiếm đóng từ trước.

Theo các tác giả Nguyễn Văn Đấu, Dương Thảo, Đặng Văn Tới trong sách "Bộ Tham mưu Hải quân - Biên niên sự kiện (1959-2004)", NXB Quân đội nhân dân xuất bản năm 2004, thì ngày 9 tháng 4 năm 1975, đài trinh sát kỹ thuật của Quân đội Nhân dân Việt Nam cướp được bức điện của quân ngụy đồn trú trên đảo Nam Yết gọi về đất liền yêu cầu tăng viện và điện trả lời của Bộ Tổng tham mưu ngụy với nội dung: "Không có lực lượng tăng viện".

Nhận được tin này, Quân ủy Trung ương QĐNDVN điện cho Bộ tư lệnh tiền phương quân chủng Hải quân đặt tại Đà Nẵng: "Có tin địch chuẩn bị rút khỏi các đảo ở Trường Sa. Kiểm tra lại ngay và chỉ thị cho lực lượng hành động kịp thời theo phương án đã định. Nếu để chậm, có thể quân đội nước ngoài chiếm trước, vì hiện nay một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm."

Khoảng 2 ngàn chiến sĩ hải quân Việt Nam trong các tàu đánh cá trá hình đột kích bất ngờ vào Trường Sa và phối hợp với cuộc tổ chức nổi dậy vượt ngục đồng loạt ở Côn Đảo, trong đánh ra - ngoài đánh vào hải quân ngụy và quân Khmer Đỏ, một bộ phận lớn quân ngụy đã đầu hàng, nhưng trong đó có một số vẫn ngoan cố chống cự. Kết quả quân ngụy có 187 người thương vong, 557 người bị bắt sống. Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng loại khỏi vòng chiến đấu 284 lính Khmer Đỏ và bắt sống hơn 400 kẻ khác

Trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975, tuy ban đầu không nằm trong kế hoạch của chiến dịch Hồ Chí Minh, nhưng trước các hoạt động "đục nước béo cò" ngoài dự tính của Khmer Đỏ, QĐNDVN đã triển khai các hoạt động quân sự đánh đuổi quân Khmer Đỏ ra khỏi những vùng bị họ lấn chiếm ở miền Tây Nam Bộ.

Ngay sau khi ngụy quân tại đồng bằng sông Cửu Long tan rã và đầu hàng Mặt Trận, từ ngày 3 đến ngày 12/5/1975, Khmer Đỏ đã lợi dụng khoảng trống quản lý tại các địa phương trên khu vực biên giới giữa các tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc của Việt Nam với các tỉnh Takeo và Campot của Campuchia, sử dụng quân chính quy mở các cuộc tấn công lấn chiếm nhiều địa điểm. Đặc biệt là khu vực Ba Chúc (huyện Tri Tôn), Phú Cường, Phú Hiệp (huyện Tịnh Biên), thị xã Châu Đốc, huyện lỵ An Phú; quân Khmer Đỏ đã sát hại trên 500 thường dân Việt Nam. Tại Tây Ninh, quân Khmer Đỏ cũng tấn công lấn chiếm nhiều địa điểm tại Xa Mát, Ta Nốt, Lò Gò (huyện Tân Biên), Phước Thạnh, Phước Tân, (huyện Châu Thành), Cây Me, Mộc Bài (huyện Bến Cầu), sát hại hàng trăm thường dân Việt Nam.

Song song với các chiến dịch chiếm lại các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, Polovai, quần đảo Nam Du trên Vịnh Thái Lan, bộ tư lệnh Quân khu 9 đã sử dụng sư đoàn 4 bộ binh được tăng cường trung đoàn hải quân đánh bộ 101 từ Bộ tư lệnh hải quân mở cuộc tấn công mạnh mẽ vào quân Khmer Đỏ. Ngày 7 tháng 5, giải phóng Châu Đốc. Đến đầu tháng 6, các đơn vị này đã giải phóng toàn bộ khu vực biên giới Tây Nam bị quân Khmer Đỏ lấn chiếm.

Cùng thời điểm đó, Trung Quốc còn tìm cách đi cửa sau để tiếp xúc tướng Dương Văn Minh, "tổng thống" trong 3 ngày cuối của chế độ Sài Gòn, có ý chống lại cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân của quân dân miền Nam Việt Nam, ngăn cản Việt Nam thống nhất. Văn kiện "Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 30 năm qua" của Bộ ngoại giao Việt Nam do NXB Sự Thật xuất bản vào tháng 10 năm 1979 đầu tiên công bố chuyện mờ ám này. Sau này, tướng Dương Văn Minh, tướng Nguyễn Hữu Hạnh, "dân biểu" Lý Quý Chung và nhiều cựu chính khách, tướng tá, sĩ quan quân đội Sài Gòn cũng thừa nhận chuyện này.

Ngày 28/4/1975, ngay sau khi tân "tổng thống" Dương Văn Minh vừa thu âm xong bản tuyên bố của mình với yêu cầu cả hai bên ngưng bắn, thương lượng để bàn giao chính quyền thì ông Francois Vanussème, tùy viên quốc phòng và an ninh của đại sứ quán Pháp ở Sài Gòn xuất hiện. Ông này yêu cầu ngưng phát cuộn băng và đưa ra một đề nghị khiến ông Dương Văn Minh phải kinh ngạc: Chính quyền mới do ông Dương Văn Minh đứng đầu hãy kêu gọi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa can thiệp, ngăn chặn cộng sản Việt Nam tiến vào Sài Gòn.

Ông Vanussème ám chỉ xa gần nói "có những nguồn tin ở Washington, Paris và Bắc Kinh" cho biết Trung Quốc không ủng hộ giải pháp 1 nước Việt Nam thống nhất. Ông ta còn khẳng định: "Quân đội Trung Quốc sẽ vào giúp các ông đứng vững". Tuy nhiên, tướng Minh đã từ chối đề nghị của Vanussème và nói: "Tôi cảm ơn thiện chí của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc." Sau khi Vanussème đi khỏi, ông Dương Văn Minh than với các cộng sự: "Mình đã bỏ Pháp đi theo Mỹ, bây giờ nó lại xui mình đi theo Tàu. Thật là chán quá." Sở dĩ người Trung Quốc muốn thông qua người Pháp là vì ông Dương Văn Minh là một người thân Pháp, đã từng phục vụ trong quân đội Pháp.

Đó là lý do mà trong những ngày miền Nam sôi sục khí thế, thì ít ai để ý lúc đó Trung Quốc đã tập kết trọng binh một cách bất thường ở biên giới phía Nam, quân đội áp sát biên thùy, tạo ra áp lực quân sự làm nóng biên giới. Trong khi lực lượng võ trang miền Nam Việt Nam đang tiến quân vào giải phóng thành đô, thì lực lượng biên phòng miền Bắc Việt Nam phải đặt trong tình trạng báo động với một tâm trạng hoang mang không hiểu ông hàng xóm định làm gì.

Song dù trước họng súng kẻ địch trước mắt và kẻ thù giấu mặt rình rập đâm lén sau lưng, quân dân ba miền Việt Nam vẫn hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, giành lại trọn vẹn độc lập, thống nhất và hòa bình lâu dài cho đất nước.



Quảng trường thị xã Sóc Trăng trong ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng


Quần chúng nông thôn chờ đón những người chiến thắng từ nhà tù Mỹ-ngụy trở về.



Người dân Sài Gòn mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng (15/5/1975)

Tham khảo thêm: Ý nghĩa lịch sử của ngày 30/4/1975

Thiếu Long

[...]