• RSS
  • Facebook
  • Twitter
Comments

Tại nước Mỹ nếu các bạn hỏi một người Việt, hay thậm chí là một người Mỹ rằng tại sao nước Mỹ to lớn như bây giờ, quá trình bành trướng lãnh thổ của Mỹ diễn ra như thế nào, ngoài Chiến tranh Việt Nam và các cuộc chiến gần đây thì Mỹ còn đem quân đánh những nơi nào v.v., thì các bạn sẽ thấy rằng họ không biết câu trả lời. Điều đó có lẽ từ sự tránh né nói về đề tài này trong giáo dục phổ thông và trên báo chí chính thống. Rất may, các trang thông tin trên Internet và các tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu đã trình bày, liệt kê, miêu tả những sự kiện quan trọng, những giai đoạn trong suốt quá trình bành trướng khu vực và quốc tế, mở rộng cương thổ của Hoa Kỳ. Bài viết này tổng hợp lại các thông tin, sự kiện để phần nào giải đáp câu hỏi: Tại sao nước Mỹ rộng lớn như hiện nay.

Năm 1775, tướng George Washington, vốn là một viên tướng tư lệnh người thuộc địa gốc Anh, đã từng chỉ huy trung đoàn dân quân địa phương trang bị nhẹ ở thuộc địa Virginia đánh bại nhiều bộ tộc châu Mỹ bản xứ và thực dân Pháp, cùng các chiến hữu thành lập lực lượng nổi dậy "Lục quân Lục địa", lãnh đạo quân nổi dậy của 13 thuộc địa tạo phản chống thực dân Anh. Sau tám năm chiến tranh, thực dân Anh thua, phải ký hiệp định Paris 1783 rút quân ra khỏi 13 thuộc địa. George Washington và các chiến hữu tuyên bố 13 thuộc địa độc lập, ly khai nước Anh, và thành lập liên bang Hoa Kỳ.

Từ đó, mười ba thuộc địa trở thành mười ba tiểu bang nằm trong liên bang Mỹ. Từ 13 tiểu bang nguyên thủy, Mỹ đã bành trướng lãnh thổ lên thành một nước rộng lớn với 50 bang với nhiều lãnh thổ phụ thuộc, bao gồm vùng quốc hải (Insular area), Puerto Rico, Samoa, Guam, 2 quần đảo và 9 hòn đảo.


Các khu vực thuộc địa của thực dân Anh ở Bắc Mỹ. Khu vực số 3 bao gồm 13 thuộc địa, sau này trở thành nước Hoa Kỳ với 13 tiểu bang đầu tiên.


Từ một quốc gia có diện tích khiêm tốn, liên bang Hoa Kỳ đã trở thành to lớn như hiện nay.


Các tiểu bang thuộc liên bang Hoa Kỳ


Các nơi trên thế giới dưới tầm ảnh hưởng của quân đội Mỹ (tính đến năm 2007). Màu càng đậm nghĩa là ảnh hưởng quân sự Mỹ càng nhiều, màu càng nhạt thì sự ảnh hưởng ít hơn.

Chính sách bành trướng toàn cầu và chủ nghĩa đế quốc của Mỹ đã làm sản sinh ra những khái niệm và thuật ngữ mới trong giới khoa học chính trị quốc tế như "đế quốc Mỹ", "tiểu bang thứ 51", "vận mệnh hiển nhiên"....

Thuật ngữ "chủ nghĩa đế quốc" đầu tiên được dùng để nói về các vấn đề liên quan tới hoàng đế Napoleon của Pháp, và cũng được dùng khi nói về chính sách ngoại giao của Anh. Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi hơn trong thế kỷ 19 và đầu tiên được sử dụng một cách phổ biến để nói về Hoa Kỳ bởi Liên minh Hoa Kỳ chống Đế quốc, được thành lập năm 1898 để chống chiến tranh Tây Ban Nha - Hoa Kỳ và sự chiếm đóng quân sự cùng những tội ác chiến tranh gây ra bởi quân đội Mỹ ở Philippines sau đó.


Trong chiến tranh xâm lược Philippines, tướng Mỹ Jacob Smith hạ lệnh "Giết tất cả người nào trên 10 tuổi" ("Kill everyone over ten"). Câu ở dưới tranh biếm họa (1902) là: "Họ là tội phạm chỉ vì họ sinh ra 10 năm trước khi chúng ta lấy Philippines" ("Criminals Because They Were Born Ten Years Before We Took the Philippines"). Jacob Smith là một kẻ bị dư luận gọi là một hung thần (monster), hắn gây rất nhiều tội ác trong các cuộc chiến ở Mỹ và Philippines và còn thường xuyên "khoe khoang" về những "thành tích" đó. Sau đó, trước áp lực dư luận thế giới, Mỹ đành phải đưa Smith ra tòa án quân sự, nhưng hắn không bị 1 ngày ngồi tù nào mà chỉ bị đề nghị, thuyết phục để tự nghỉ hưu trong danh dự.

Tư tưởng bành trướng quốc tế của Mỹ được thể hiện rõ qua khái niệm "Vận mệnh hiển nhiên" (Manifest Destiny), "vận mệnh hiển nhiên" là một niềm tin của người Mỹ rằng họ có "vận mệnh" mở rộng lãnh thổ từ duyên hải Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương. Khái niệm này cũng được sử dụng để hô hào và biện hộ cho việc thu phục các lãnh thổ khác.

Những người theo tư tưởng này tin rằng mở rộng lãnh thổ Hoa Kỳ không chỉ tốt đẹp mà còn là "hiển nhiên" và là "vận mệnh". Ban đầu, "Manifest Destiny" là một từ có tính cách thời thế chính trị trong thế kỷ 19 nhưng dần dần nó trở thành thuật ngữ chuẩn lịch sử, thường được dùng như đồng nghĩa với việc mở rộng lãnh thổ của Hoa Kỳ khắp Bắc Mỹ.

Thuật ngữ này không được những nhà làm chính sách của Hoa Kỳ sử dụng trong đầu thế kỷ 20 nhưng một số nhà bình luận tin rằng một số khía cạnh của niềm tin "Vận mệnh hiển nhiên", đặc biệt là tư tưởng, niềm tin, chủ nghĩa đại bá quyền về một "nhiệm vụ" của người Mỹ là bành trướng thế lực, mở rộng tầm ảnh hưởng ra khắp thế giới dưới chiêu bài chính trị "khai hóa dân chủ", "khai hóa văn minh".


Tác phẩm nổi tiếng năm 1872 của họa sĩ John Gast, có tên "American Progress" (Quá trình tiến tới của Hoa Kỳ), là một sự miêu tả mang tính biểu tượng về tư tưởng "Vận mệnh hiển nhiên". Trong hình là nàng Columbia, một hình tượng được nhân cách hóa như là nước Hoa Kỳ, đi phía Tây cùng với những người định cư Mỹ vì sự nghiệp "khai hóa". Người Mỹ bản địa (Native American) cùng thú hoang bỏ chạy.


Biếm họa về tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt và "cây roi lớn" của ông ta ở vùng Caribe, trong chiến dịch xâm chiếm Puerto Rico. Ý tưởng biếm họa này là xuất phát từ một tuyên bố "cởi mở" và đầy tự hào của Roosevelt: "Đó là vận mệnh hiển nhiên khi một quốc gia làm chủ một quần đảo giáp bờ biển của họ." ("It is manifest destiny for a nation to own the islands which border its shores.") và nếu "Bất kỳ một nước Nam Mỹ nào không ngoan ngoãn thì phải bị cho ăn đòn." ("Any South American country misbehaves it should be spanked.")

Tư tưởng nước lớn của Mỹ cũng được thể hiện qua khái niệm "Tiểu bang thứ 51" (51st state), đó là một thuật ngữ để chỉ những vùng được nghiêm túc hoặc mỉa mai cho rằng có thể trở thành một vùng đất mới của Hoa Kỳ, cộng thêm vào 50 tiểu bang sẵn có của họ. Trước năm 1959, khi Hawaii và Alaska chưa sát nhập vào liên bang Hoa Kỳ thì thuật ngữ "49th state" (tiểu bang thứ 49) đã được dùng. Gần đây nhất, Puerto Rico có khả năng thành tiểu bang thứ 51.

Cụm từ "tiểu bang thứ 51" cũng được dùng để nói về các quốc gia chư hầu, nhà nước vệ tinh, hoặc thuộc địa kiểu mới, đã hoặc đang nằm dưới sự ảnh hưởng hoặc điều khiển từ chính phủ Hoa Kỳ. Trong nhiều nước trên thế giới, nhiều người thấy rằng văn hóa, truyền thống dân tộc của họ đã bị Mỹ hóa quá nhiều, các nhóm này cũng thường sử dụng thuật ngữ "tiểu bang thứ 51" như là một cái nhìn nghiêm khắc về nước họ.

Các sự kiện tiêu biểu trong quá trình mở rộng lãnh thổ Hoa Kỳ

Cuộc trường kỳ kháng chiến bi tráng của thổ dân Mỹ

Lâu nay mỗi khi nhắc đến thổ dân bản xứ châu Mỹ thì nhiều người trong chúng ta, do ảnh hưởng từ hệ thống tuyên truyền, giáo dục, phim ảnh thời Pháp, thời Mỹ, nên đầu óc hiện lên ngay hình ảnh của những kẻ ăn lông ở lỗ, rồi gom chung lại gọi họ là "mọi da đỏ". Sự thật có phải vậy không?

Sự thật là châu Mỹ nói chung và Bắc Mỹ, Hoa Kỳ nói riêng, trước khi thực dân phương Tây đến thôn tính, đã tồn tại hàng trăm dân tộc với các văn hóa và ngôn ngữ khác nhau vô cùng đa dạng và phong phú. Người phương Tây cho rằng mình văn minh hơn nên ban đầu họ không cần biết ai là ai, họ khái quát hóa lại hết và gom hết vào gọi chung là Indian (vì nhà thám hiểm Christopher Columbus ban đầu nhầm lẫn đây là Ấn Độ), và khi thấy một vài chủng tộc có da nâu đậm hoặc một số bộ lạc có phong tục nhuộm mặt đỏ hoặc có những hình vẽ màu đỏ trên mặt để kích thích ý chí chiến đấu, thì họ gọi đó là Redskin hoặc Red Indians, và từ đó danh từ mang tính lăng mạ "mọi da đỏ" được sử dụng phổ biến.

Khi xem hình vẽ, các phim ảnh Hollywood, các truyện tranh của Mỹ, bao gồm cả các hình vẽ minh họa trong sách giáo khoa cấp phổ thông, thì người ta luôn thấy các hình ảnh thổ dân ăn mặc gần như là khỏa thân, chỉ đóng mỗi cái khố, ăn lông ở lỗ, như các dân tộc thiểu số hay con người trong thời thượng cổ, bán khai.

Thật ra nếu các bạn đến các tiểu bang phía Bắc nước Mỹ thì các bạn sẽ thấy lạnh căm, đông đá, tuyết phủ. Không cần là các bang phía Bắc, kể cả các bang phía Nam như Texas, Arizona, New Mexico, Florida khi mùa đông đến thì thời tiết khí hậu rất lạnh. Như vậy thì làm sao có thể ăn mặc ít vải gần như khỏa thân, để mình trần đóng mỗi một cái khố như trong sách và phim điện ảnh mô tả mà có thể chịu rét nổi.



Từ trên xuống dưới: Kaintwakon (biệt danh: Người trồng ngô), thủ lĩnh của người Seneca, và Thayendanegea, thủ lĩnh của người Mohawk. Hai ông là thủ lĩnh quân đội kiệt hiệt của liên minh Iroquois.

Đúng là có một ít tộc người, bộ lạc ở Nam Mỹ gần xích đạo, hoặc những ngư dân sống gần biển, dân đảo, là ăn mặc thiếu vải, bởi vì họ không có nhu cầu đó, và họ sinh hoạt chủ yếu dưới nước không cần nhiều y phục. Hoặc có khi đơn giản là một số người thích cởi trần cho mát khi sinh hoạt thường nhật, như bao nhiêu người trên thế giới ngày nay.

Hiện tượng "khái quát hóa", "mọi rợ hóa", "man di hóa" các sắc tộc, sắc dân khác của Mỹ và phương Tây cũng tương tự như người Hán ở Trung Quốc thời phong kiến từng gom chung lại gọi bốn phương quanh họ là "Đông di, Tây nhung, Nam man, Bắc địch".

Các chính phủ và hệ thống giáo dục nhà nước của Mỹ và phương Tây lâu nay luôn lẩn tránh hoặc viết lại lịch sử một cách xuyên tạc, bóp méo để chạy tội xâm lược, bành trướng, và các tội ác diệt chủng, thảm sát quy mô lớn mà các cha anh của họ đã gây ra ở châu Mỹ.

Theo ước tính của nhóm nghiên cứu đạo đức học (ethic studies) của trường đại học Colorado, thì thổ dân Bắc Mỹ có khoảng 15 triệu người khi người Tây phương bắt đầu xâm lược, chỉ còn lại chưa đầy 250 ngàn vào năm 1890. Ban đầu họ không hề là các dân tộc thiểu số, mà họ chính là những dân tộc đa số, chỉ sau khi bị quân xâm lược tiến hành những cuộc chiến tranh diệt chủng, diệt tộc, hoặc đô hộ, đồng hóa, thì họ mới bị trở thành thiểu số.

Giáo sư đại học Hawaii, sử gia David Stannard, trong sách "American Holocaust: The Conquest of the New World" (Cuộc diệt chủng Holocaust của Mỹ: Cuộc chinh phục Tân thế giới), do NXB đại học Oxford (Anh) xuất bản, đã cho biết: "Trong vòng bốn thế kỷ - từ thập kỷ 1490 đến 1890 - người châu Âu và người Mỹ trắng đã tham gia một chuỗi liên tục các chiến dịch diệt chủng chống nhân dân châu Mỹ bản xứ. Đó là hành động diệt chủng có quy mô lớn nhất trong lịch sử thế giới."

"During the course of four centuries - from the 1490s to the 1890s - Europeans and white Americans engaged in an unbroken string of genocide campaigns against the native peoples of the Americas. It was, far and away, the most massive act of genocide in the history of the world."

Trong loạt phim tài liệu "500 Nations" (500 dân tộc), nói về các nền văn minh, nhà nước, đế chế, vương quốc, dân tộc, bộ tộc, bộ lạc ở Bắc Mỹ, Trung Mỹ, và cuộc kháng chiến kiên cường bi tráng của họ trước quân xâm lược thực dân châu Âu, nhà sản xuất kiêm đạo diễn Kevin Costner đã giới thiệu:

"Từ rất lâu trước khi những người châu Âu đầu tiên đến đây, đã có chừng 500 dân tộc đã ở Bắc Mỹ. Họ bao trùm châu lục từ bờ biển đến bờ biển, từ Trung Mỹ đến Bắc Băng Dương. Có hàng chục triệu người ở đây, nói hơn 300 ngôn ngữ. Nhiều dân tộc trong số đó sinh sống trong các thành phố đẹp, thuộc loại các đô thị lớn và tân kỳ nhất trên thế giới. Phim tài liệu 500 Dân tộc nhìn lại các nền văn hóa cổ đó, họ sống ra sao, và bao nhiêu trong số họ còn sống sót.... Những gì các bạn sẽ nhìn thấy trong phim chính là những gì đã xảy ra. Những gì trong phim chỉ là một phần, không phải là tất cả những gì đã xảy ra, và không phải đoạn phim nào cũng dễ xem. Chúng ta không thể thay đổi nó. Chúng ta không thể vặn lại kim đồng hồ. Nhưng chúng ta có thể mở mắt ra và cho các dân tộc đầu tiên trên mảnh đất này sự công nhận và tôn trọng họ đáng phải được: Vị trí chính đáng của họ trong lịch sử thế giới."

"Long before the first Europeans arrived here, there were some 500 nations already in North America. They blanketed the continent from coast to coast, from Central America to the Arctic. There were tens of millions of people here, speaking over 300 languages. Many of them lived in beautiful cities, among the largest and most advanced in the world. In the coming hours, 500 Nations looks back on those ancient cultures, how they lived, and how many survived.... What you're about to see is what happened. It's not all that happened, and it's not always pleasant. We can't change that. We can't turn back the clock. But we can open our eyes and give the first nations of this land the recognition and respect they deserve: their rightful place in the history of the world."

Trong số khoảng 500 dân tộc đó có nhiều bộ tộc, thị tộc, bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc. Và còn có những dân tộc với nền văn minh, văn hóa phát triển cao với các thể chế chính trị đã phát triển cao, bao gồm các đế quốc, vương triều, nhà nước, chính quyền, quân đội có tổ chức, hệ thống hành chính, và các quan hệ vua tôi, thần dân, họ thu thuế và sử dụng một số loại tiền riêng làm bằng đồng (Axe-monies).

Đại Liên minh phía Tây, nền văn minh Maya, Aztec, và Inca

Tại châu Mỹ trong các thời kỳ khác nhau, những lực lượng lớn mạnh nhất có thể kể đến: Tại Bắc Mỹ có liên minh chính trị quân sự "Đại Liên minh phía Tây" (Western Confederacy, phần lớn thuộc nước Mỹ và Canada ngày nay), một liên minh rộng lớn bao gồm nhiều liên minh nhỏ hơn, nhưng khá lỏng lẻo. Đại liên minh này bao gồm Liên minh Iroquois (lớn nhất trong đại liên minh), liên minh Hội đồng Tam Hỏa, liên minh 7 nước Canada (7 dân tộc bản địa ở khu vực phía Nam Canada ngày nay), Liên minh Wabash (gồm các tộc Wea, Piankashaw và nhiều nhóm khác), liên minh Illini, và 10 lực lượng lớn khác.

Tại Trung Mỹ có nền văn minh, đế chế Maya và Aztec (phần lớn thuộc Mexico ngày nay). Và tại Nam Mỹ có nền văn minh, đế chế Inca (phần lớn thuộc Peru ngày nay).

Đại Liên minh phía Tây đã bị quân đội liên bang Mỹ tiêu diệt sau trận Fallen Timbers năm 1794. Một năm sau (1795) chính thức kết thúc cuộc đấu tranh chống thực dân Mỹ ở khu vực phía Bắc. Liên minh chính thức tan rã sau hơn 10 năm thành lập để kháng chiến chống sự xâm nhập của đế quốc Mỹ lên phía Bắc.


Lãnh thổ của đế chế Maya


Kim tự tháp của nền văn minh Maya, một trong những kỳ quan thế giới.

Nền văn minh, đế chế Maya đến thế kỷ 9 thì suy tàn, quyền lực trung ương bị tan rã và chia làm nhiều phe phái, quyền lực, thế lực khác nhau. Đến năm 1511, thực dân Tây Ban Nha bắt đầu mở cuộc chinh phạt các thế lực còn lại của người Maya, bắt đầu bằng chiến dịch chinh phạt vùng Yucatán, sau đó là vùng Guatemala và Petén.

Không giống như hai đế chế Aztec và Inca, khi thực dân Tây Ban Nha chỉ cần hành quyết vua và các lãnh tụ kháng chiến là xong, các thế hệ người Maya dù các lãnh tụ của họ bị hành hình thì họ vẫn nối tiếp nhau liên tục đứng lên kháng chiến đuổi quân ngoại xâm. Sự chống cự dữ dội và thường xuyên của người Maya làm cho thực dân Tây Ban Nha tốn 186 năm mới hoàn thành bình định. Itza, vương quốc cuối cùng của dân tộc Maya chịu thất bại trước Tây Ban Nha vào năm 1697.


Lãnh thổ của đế chế Aztec


Kim tự tháp của nền văn minh Aztec

Đế chế Aztec hay còn gọi là liên minh chân vạc Aztec (Aztec Tripple Alliance - gồm 3 khu vực lớn Tenochtitlan, Texcoco, Tlacopan) là một nền văn minh rực rỡ ở Trung Mỹ. Năm 1519, tướng Hernán Cortés của đế quốc Tây Ban Nha đem 8 vạn quân Tây Ban Nha và hơn 20 vạn ngụy quân bản xứ khai hỏa chiến tranh xâm lược.

Sau 2 năm chiến tranh, Cortés san bằng kinh đô Tenochtitlan (thành phố lớn nhất đế chế Aztec và một trong những thành phố thịnh vượng và lớn nhất thế giới thời đó), đế chế Aztec bị tiêu diệt, các hoàng đế Aztec bị hành quyết, Aztec trở thành thuộc địa của thực dân Tây Ban Nha.


Lãnh thổ mở rộng của đế chế Inca theo từng thời kỳ.


Một góc phế tích của đế chế Inca huy hoàng một thời.

Đế chế Inca cũng là một nước lớn, một đế chế cực thịnh, giàu mạnh và là một nền văn minh lớn ở Nam Mỹ. Năm 1526, những người Tây Ban Nha đầu tiên đến đây. Sau một thời gian thăm dò, họ cố ý đem những người bệnh đậu mùa đến sống lẫn lộn với người dân bản địa. Bệnh đậu mùa lúc đó vốn không xa lạ gì với người châu Âu, cơ thể họ đã quen thuộc và có kháng sinh, họ còn có bác sĩ và thuốc trị. Nhưng người Inca thì không có những thứ đó vì đó là một căn bệnh mới lạ với họ. Thế là một cơn đại dịch bùng nổ và truyền nhiễm lây lan, làm hàng vạn người bệnh chết. Quốc vương Huayna Capac của Inca cũng bị nhiễm bệnh.

Năm 1528, quốc vương Huayna Capac của Inca không chống nổi nên qua đời. Do chết vì căn bệnh quái ác nên không có chuẩn bị hậu sự, thế là cuộc nội chiến Inca nổ ra giữa 2 vương tử Atahualpa và Huáscar để tranh giành ngôi báu.

Giữa lúc đó, hai tướng Francisco Pizarro và Diego de Almagro của đế quốc Tây Ban Nha dẫn quân xâm lược Inca, chia làm hai cánh quân tấn công các thành phố quan trọng. Cuộc nội chiến biến thành cuộc chiến tranh tay ba giữa quân đội Tây Ban Nha và 2 vương tử. Atahualpa đánh bại và đuổi đi Huáscar, lên ngôi vua. Thực dân Tây Ban Nha hành thích Huáscar sau đó đổ cho Atahualpa, kích động mọi người chống Atahualpa hay ít nhất không ủng hộ, giúp đỡ tân hoàng đế. Không lâu sau đó Atahualpa bị tướng Tây Ban Nha Francisco Pizarro đánh bại và hành quyết. Người Tây Ban Nha đưa vương tử trẻ Manco Inca lên làm "hoàng đế".

Năm 1536, hoàng đế Manco không cam tâm làm một con rối nữa, thì một cơ hội bằng vàng đã xuất hiện: Hai đại gia tộc Tây Ban Nha ở đây là gia tộc Pizarro và gia tộc Almagro là hai thế lực lớn tại đây và đang rạn nứt, mâu thuẫn trở súng bắn nhau. Manco thừa cơ ngầm liên lạc với các thế lực bản địa trung thành, nổi dậy bao vây thành Cusco, tướng Tây Ban Nha là Juan Pizarro tử trận, và tướng Quizo Yupanqui của Inca kéo quân tấn công thành phố đặc quyền của người Tây Ban Nha là Lima. Vua Manco thân chinh chỉ huy gần 3 vạn quân đánh bại tướng Hernando Pizarro cùng với 100 quân Tây Ban Nha và hơn 3 vạn ngụy quân trong trận Ollantaytambo, một trận đánh lớn trong chiến tranh Tây Ban Nha - Inca.

Nhưng ngay sau đó người Tây Ban Nha lập tức phục hồi, chuyển bại thành thắng và tái chiếm thành Cusco. Tướng Tây Ban Nha Rodrigo Orgonez đánh chiếm Vitcos và bắt làm con tin con trai của Manco Inca là Titu Cusi. Manco Inca đào thoát và lui vào vùng núi Vilcabamba lập thủ đô kháng chiến, từ nơi đây Manco Inca và những người nối ngôi đã trị vì thêm được 36 năm nữa. Năm 1572, cứ điểm cố thủ cuối của người Inca bị thôn tính, và vị hoàng đế cuối cùng, Túpac Amaru, bị hành quyết. Sự kiện này đã chấm dứt cuộc kháng chiến chống Tây Ban Nha của người Inca.


Ảnh phục dựng và minh họa một võ tướng Inca

Sau khi hoàn thành bình định lãnh thổ Inca, người Tây Ban Nha hủy diệt thủ đô kháng chiến Vilcabamba và bắt các nô lệ trai tráng xây lại thành phố mới theo phong cách thẩm mỹ phương Tây. Những người còn lại, bao gồm cả người già, trẻ em, phụ nữ bị cưỡng bách di cư qua một thành phố Công giáo mới là San Francisco de la Victoria de Vilcabamba. Từ đó dân Inca bị bắt ép đi vào các "nhà thờ" trá hình nghe "giảng đạo", một hình thức tẩy não, nhồi sọ, đồng hóa. Việc cưỡng bách di cư ra khỏi nơi họ quen thuộc vừa là để triệt tiêu ưu thế quen thuộc địa hình của họ trong cuộc chiến tranh du kích, vừa để triệt tiêu ý chí kháng cự bảo vệ quê hương thôn xóm của họ.

Sau khi đế chế Inca hoàn toàn sụp đổ, nhiều thành phần văn hóa của Inca bị hủy diệt có hệ thống, bao gồm hệ thống nghề nông phức tạp của họ. Từ đó, mỗi một gia đình Inca phải cử 1 người lao động khổ sai ở các mỏ vàng, mỏ bạc. Khi một thành viên gia đình bị chết, điều rất thường xuyên xảy ra sau một hai năm, thì gia đình nạn nhân vẫn phải cử 1 người thay thế.

Các thảm họa, thảm cảnh trên không chỉ xảy ra riêng với người Inca, mà là xảy ra với hầu hết thổ dân châu Mỹ. Họ bị diệt chủng, diệt tộc, diệt môn, hủy diệt các nền văn minh, văn hóa. Những người sống sót thì bị cưỡng bách di cư, đày đọa họ lên Khu dành riêng cho người bản địa Mỹ (Indian reservation), vốn là những vùng sâu vùng xa, khô cằn sỏi đá. Họ còn bị tẩy não, nhồi sọ và Tây hóa, Mỹ hóa một cách có hệ thống.

Các thị tộc, gia tộc hay nhân tài ưu tú, có năng lực lãnh đạo đám đông, đều bị thực dân đế quốc Mỹ và phương Tây triển khai các chiến dịch "nhổ cỏ nhổ tận gốc", thủ tiêu, ám sát, hay thậm chí là thảm sát, chôn sống, gây ra các tội ác diệt chủng đúng nghĩa. Do đó từ đó đến nay các dân tộc đó tuy còn tồn tại như một dân tộc thiểu số, nhưng không sản sinh ra nổi một nhân vật kỳ tài kiệt xuất nào như xưa, mặc dù quá khứ của dân tộc họ rất vẻ vang.


Khu dành riêng cho người Laguna tại một nơi hẻo lánh ở tiểu bang New Mexico. Đa số các khu vực cô lập dành riêng cho thổ dân Mỹ nằm ở miền Tây Hoa Kỳ, thường trong những vùng khô cằn không hợp cho nông nghiệp.

Một vấn đề đáng nói rút ra sự kiện mất nước, vong quốc của Aztec và Inca là: Có rất nhiều dân tộc, bộ tộc, bộ lạc, thế lực chung quanh Aztec và Inca lâu nay do ghét hoặc sợ trước sự lớn mạnh của 2 đế chế cường thịnh này, hoặc bị 2 anh to con này chèn ép, bắt nạt, rồi bị người Tây Ban Nha dụ dỗ, họ liền liên minh đi theo quân Tây Ban Nha đánh anh hàng xóm to lớn kia. Và sau khi Aztec, Inca sụp đổ thì chính họ cũng bị "làm thịt" nốt. Khi thế lực mạnh nhất trong vùng đã tan rã trước kẻ thù bên ngoài, thì các thế lực nhỏ hơn cũng không thể tồn tại.

So sánh với trường hợp Việt Nam thì chúng ta có thể nhận định rằng cha ông, cha anh ta thật khôn ngoan, già dặn, lão luyện hơn nhiều so các dân tộc láng giềng của đế chế Aztec và Inca. Dù không ưa và luôn đề cao cảnh giác trước anh hàng xóm to con, nhưng trong lịch sử dân mình chưa bao giờ ủng hộ các thế lực bên ngoài xâm lược Trung Quốc, dù đó là đế chế Mông Cổ, bộ tộc Mãn Châu, Bát quốc liên quân, hay đế quốc Nhật Bản.

Các lãnh tụ nghĩa quân kháng Pháp như Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Thiện Thuật và nhiều người khác đều đã từng sang Trung Quốc nhờ giúp đỡ chống Pháp. Về sau, cách mạng Việt Nam cũng nhờ sự giúp đỡ một phần của Trung Quốc để chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ.

Ông bà tổ tiên Việt Nam đã truyền dạy khái niệm "Bà con xa không bằng láng giềng gần" cho con cháu. Đó là sự đúc kết từ trải nghiệm ngàn năm từ thực tiễn cuộc sống thu nhỏ. Bởi vì láng giềng gần dù muốn dù không, vẫn có mối quan hệ lợi ích cộng sinh gắn kết hơn nhiều so với những người ở xa, dù đó là bà con họ hàng của chúng ta đi nữa.

Thường các cụ không dạy sai bao giờ, vì đó là từ những kinh nghiệm xương máu. Nếu tìm hiểu và xem xét lịch sử Việt Nam và thế giới, xem các kết quả, các mối quan hệ nhân quả, thì chúng ta càng thấy ông bà mình dạy đúng.

Rất tiếc lâu nay luôn có một bộ phận do không nhìn thấy hoặc không muốn nhìn thấy những đạo lý đó, nên thường hay có tư tưởng làm trái lời dạy tiền nhân, luôn muốn dựa vào những kẻ không hề là "bà con" ở cách xa nửa vòng trái đất, để chống lại tên hàng xóm to lớn ngang ngược.

Chẳng những họ không hề là "bà con", mà còn là những cựu thù có bề dày tội ác chất cao như núi ở Đông Dương, Đông Nam Á và khắp thế giới. Các "thành tích" tội ác và bành trướng của họ đã là ở tầm vóc toàn cầu và bỏ xa tên hàng xóm phía Bắc, dù rằng tên hàng xóm đó cũng chẳng phải là "thiện nam tín nữ" gì.

Chiến cuộc tại Hoa Kỳ

Năm 1776, chiến tranh Cherokee II (chiến tranh Cherokee I là cuộc chiến giữa người Cherokee và đế quốc Anh) xảy ra, lực lượng vũ trang của dân tộc bản xứ Cherokee chiến đấu tự vệ trước sự xâm lấn của Mỹ vào khu vực Đông Tennessee và Đông Kentucky của họ. Sau đó cuộc xung đột dai dẳng tiếp diễn với cuộc chiến tranh Chickamaga, khi các bộ tộc, bộ lạc bản xứ liên minh lại với nhau chống quân đội Mỹ. Năm 1794, họ thất bại hoàn toàn và khu vực này bị sát nhập vào các bang Tennessee và Kentucky của Mỹ.

Năm 1785, chiến tranh Da đỏ Tây Bắc nổ ra, một chuỗi trận đánh đẫm máu giữa nhiều bộ tộc, bộ lạc, lực lượng người Bắc Mỹ bản xứ với quân đội Mỹ, bảo vệ lãnh địa của họ ở Ohio. Mục đích của các chiến dịch xâm lược của quân Mỹ là để áp đặt quyền làm chủ thực tế của chính phủ Mỹ tại các vùng đất mới này. Chiến tranh kết thúc năm 1795 với phần thắng thuộc về Mỹ.

Năm 1810, các tộc người Mỹ bản địa ở Tây Florida tuyên bố độc lập. Tổng thống Mỹ James Madison tức tốc cho lục quân Hoa Kỳ đến xâm chiếm, tiêu diệt nhà nước non trẻ và sát nhập Tây Florida vào liên bang Mỹ.

Năm 1812, Mỹ đánh chiếm vùng Ohio (nơi các thế lực thực dân châu Âu và thổ dân Mỹ đang giành quyền kiểm soát). Năm 1814, những vùng khác ở Florida lúc này đang là thuộc địa của Tây Ban Nha. Khi Tây Ban Nha thất thế thì Anh và Mỹ xông vào giành nhau. Tướng Mỹ Andrew Jackson đánh bại quân Anh và chiếm lấy thành phố Pensacola, Florida.

Năm 1816, Florida bùng nổ cuộc chiến Seminole I, khi tướng Jackson và tướng Edmund Gaines đem quân truy bắt các nô lệ bỏ trốn. Họ viện cớ người da đỏ Seminole chứa chấp những nô lệ da đen đang ẩn náu, vi phạm hợp đồng nô lệ, và cho quân đánh thẳng vào, sát nhập lãnh thổ của người Seminole vào Bắc Florida. Sau đó Jackson và Gaines mở chiến dịch tấn công một loạt hải cảng của Tây Ban Nha và chiếm lấy, hàng ngàn công dân Anh, Tây Ban Nha, người da đen, người da đỏ đã bị hành quyết. Năm 1819, tất cả những vùng ở Florida sát nhập vào nước Mỹ.

Năm 1835 - 1842, người Seminole lần nữa nổi dậy giành lại đất của họ ở Florida nhưng đều bị lục quân Mỹ, với sự trợ giúp của hải quân, đàn áp triệt để. Chính phủ Mỹ viện nhiều cớ rồi cưỡng ép lưu đày người Seminole qua phía Tây Mississippi. Mỹ cô lập dân Seminole trong những vùng khô cằn sỏi đá, khan hiếm tài nguyên, không thể trồng trọt hay chăn nuôi. Chính phủ Mỹ đã đẩy dân tộc Seminole xa khỏi quê hương của họ, kết thúc 7 năm kháng chiến của người Seminole.

Năm 1890 xảy ra trận đánh Wounded Knee: Sư đoàn 7 Kỵ binh Hoa Kỳ giết 178 người da đỏ Sioux và Lakota trong một cuộc xô xát giữa lính Mỹ với người Lakota và người Sioux gần sông Woulded Knee. Liên quân Lakota và Sioux còn bị thương 89 người, 150 người mất tích; lục quân Hoa Kỳ bị chết trận 25 người, 39 người bị thương. Trong trận này người Lakota và Sioux đã tận dụng sự thông thạo địa hình để đột kích và phục kích kỵ binh Mỹ, và đã gây thương vong đáng kể cho quân đội Mỹ. Nhưng họ vẫn thua trận.


Lili'uokalani, nữ hoàng cuối cùng của đảo quốc Hawaii

Năm 1893, quân đội Mỹ xâm lược và đảo chính, lật đổ vương quốc Hawaii, sát nhập nước này vào liên bang Hoa Kỳ. Mỹ đồng thời xâm lược và chiếm luôn đảo Palmyra gần đó.

Ngoài ra còn có khoảng 100 cuộc chiến và hàng chục ngàn trận chiến khác đã diễn ra trên đất Mỹ từ năm 1783 đến 1924. Cuối cùng, cuộc kháng chiến bi hùng 302 năm chống thực dân phương Tây và 141 năm chống đế quốc Mỹ của thổ dân Mỹ đã thất bại hoàn toàn.

Cuộc chiến Apache tại mặt trận Tây Nam vào năm 1924 giữa kháng chiến quân của tộc Apache chống đỡ cuộc xâm lăng của quân đội liên bang Hoa Kỳ đã đánh dấu kết quả chiến bại cuối cùng và khép lại cuộc kháng chiến trường kỳ 302 năm của người Mỹ bản xứ, kể từ trận Jamestown năm 1622 giữa thực dân Anh và liên minh Powhatan ở thuộc địa Virginia.




Từ trên xuống dưới: Maȟpíya Ičáȟtagya (biệt danh: Chạm vào mây), thủ lĩnh của người Lakota. Mishikinakwa (biệt danh: Rùa nhỏ), thủ lĩnh và danh tướng của người Miami. Dưới cùng, bên phải cùng: Geronimo (biệt danh: Người ngáp ngủ), thủ lĩnh quân sự của người Apache, một trong những thủ lĩnh cuối cùng của thổ dân Mỹ trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Họ đều là những chiến tướng nổi danh của thổ dân Bắc Mỹ, đặc biệt là Mishikinakwa, là một kỳ tài quân sự hiếm có của thổ dân, đã chỉ huy quân đội thổ dân đánh thắng nhiều trận lừng danh trước quân đội Hoa Kỳ và gây cho địch những tổn thất to lớn.

Đàn áp những cuộc nổi dậy trong nước
Năm 1786 - 1787, cuộc khởi nghĩa Shays ở miền Tây bang Massachusetts để chống lại tệ nạn áp bức siết tín dụng, siết nợ của tư bản tài phiệt Mỹ. Cuộc khởi nghĩa bị dẹp sau gần 1 năm.

Năm 1791 - 1794, cuộc khởi nghĩa Whiskey chống sưu cao thuế nặng và bất công xã hội, bắt dân phải gánh nợ chiến tranh. Cuộc khởi nghĩa nổ ra sau nhiều cuộc biểu tình ôn hòa bị quân đội đàn áp bằng súng đạn. Cuộc khởi nghĩa bị dẹp sau 3 năm.

Năm 1799 - 1800, để trang trải chi phí cho cuộc hải chiến Quasi chống Pháp, chính phủ Mỹ đánh thuế nặng nề bất động sản. Cộng đồng người Mỹ gốc Hà Lan nổi dậy chống cự, hình thành cuộc nổi dậy Fries. Nhưng cuộc nổi dậy sau đó bị dẹp.

Ngoài ra còn nhiều cuộc nổi dậy khác nhưng chỉ mang tính tự phát, cô lập với quy mô nhỏ. Nói chung, từ năm 1776 đến năm 1973, quân đội Hoa Kỳ đã trấn áp và đánh dẹp khoảng 30 cuộc khởi nghĩa chống hệ thống nô lệ, sưu cao thuế nặng và bất công giai cấp.

Đánh phá châu Mỹ Latinh

Năm 1916, Mỹ đem quân viễn chinh xâm lược Cộng hòa Dominican và chính thức đô hộ thuộc địa này đến năm 1924 mới dần trao quyền lại cho người bản xứ quản lý. Năm 1965, Mỹ đưa quân vào tấn công Đảng Cách Mạng Dominican và Đảng Cách Mạng 14 tháng 6 khi hai đảng cánh tả này đang tổ chức biểu tình chống chính quyền quân sự thân Mỹ.

Năm 1983, Mỹ đem quân xâm lược đảo quốc Grenada, tiêu diệt Chính phủ Nhân dân Cách mạng Grenada. Cuối năm 1989, Mỹ đem 2 vạn quân tấn công Panama, giải tán Lực lượng Vũ trang Công lập Panama.


Trên 20.000 người dân bị mất nhà ở Panama. Khủng hoảng kéo dài hơn 2 tuần.
Năm 1991, trong bối cảnh Haiti đang là một chư hầu (nước nhỏ thần phục nước lớn) của Mỹ dưới sự cai trị của tổng thống độc tài thân Mỹ Jean-Bertrand Aristide (từng nhiều lần cho cảnh sát tấn công đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa của các phe đối lập), tướng Raoul Cédras là tổng tư lệnh, tổng chỉ huy quân đội Haiti, đã dẫn quân làm đảo chính lật đổ Aristide và thiết lập một chính quyền quân sự. Dưới sự can thiệp ngoại giao của Mỹ, Aristide thoát án tử hình và sống lưu vong. Năm 1994, Mỹ lấy danh nghĩa bảo vệ dân chủ, "phù Aristide diệt Cédras" đem quân xâm lược Haiti, đưa Aristide về cầm quyền.

Từ đó, ngành du lịch, nông nghiệp và các tài nguyên chủ chốt như điện và nước ở Haiti đều do các tập đoàn người Mỹ nắm giữ, đến nay Haiti là nước nghèo nhất và có mức sống thấp nhất châu Mỹ, đối diện thường trực với nạn đói, thất nghiệp, tham nhũng và kém minh bạch (nhất là các hồ sơ lao động). Tăng trưởng kinh tế cao nhất mà Haiti đạt được từ ngày bị Mỹ xâm lược là 1,8% năm 2006. Hiện nay Haiti đang bị tăng trưởng âm.

Xâm lấn Mexico

Sau cuộc chiến Hoa Kỳ - Mexico (1846-1848), Mexico thua, buộc phải ký hòa ước bất bình đẳng Guadalupe Hidalgo, chấp nhận nhiều điều khoản bất bình đẳng và "trao trả độc lập" cho Texas. Nhưng ngay sau đó Texas được sát nhập vào Hoa Kỳ. Mexico mất Texas vào tay Mỹ.

Mỹ còn gây áp lực ép Mexico phải bán vùng đất Mexican Cession (ngày nay là vùng tây nam Hoa Kỳ) trù phú cho Mỹ với giá 15 triệu USD. Mỹ cũng tỏ thái độ "tốt bụng" và "xóa nợ" 3 triệu USD trong số tiền mà Mỹ đòi hỏi Mexico "bồi thường" chiến tranh và cáo buộc rằng Mexico "nợ" họ tiền chi phí chiến tranh.

Năm 1853, Mỹ lại ép Mexico bán rẻ lãnh thổ ở một vùng đất tiềm năng giáp ranh biên giới Hoa Kỳ - Mexico, với giá 10 triệu USD. Vùng này ngày nay là phía nam Arizona và tây nam New Mexico. Mỹ cần khu vực này để làm một dự án đường rầy xe lửa. Về sau, Mỹ phát triển và hợp nhất những vùng đã "mua" được này và hình thành hai tiểu bang Arizona và New Mexico.

Từ năm 1873 đến 1896, lính Mỹ thường xuyên vượt biên giới Mexico, xâm thực, lấn đất, phá hoại, cướp gia súc và của cải. Năm 1876, Mỹ chiếm giữ thị trấn Matamoros của Mexico.
Năm 1905, sau thỏa ước Banco, Mỹ có thêm 2 vùng đất từ Mexico ở sông Colorado giáp ranh Arizona, tổng cộng 842,4 mẫu Anh (3,409 km2). Về sau, Mexico nhượng tiếp 3 hòn đảo và 68 khu đất cho Mỹ, tổng cộng 1.275,9 mẫu Anh (5.163 km2).

Năm 1963, Mỹ và Mexico ký hòa ước Chamizal, kết thúc gần 100 năm tranh chấp đất đai giữa hai nước ở vùng nay là El Paso, Texas. Hiệp định này còn sát nhập 264 mẫu Anh (1,07km2) vào nước Mỹ.

Năm 1970, Mexico phải ký với Mỹ hiệp định biên giới sát nhập 823 mẫu Anh (3,33 km2) đất, thuộc vùng đất màu mỡ Presidio và Hidalgo vào nước Mỹ, với lý do "xây hệ thống chống bão lụt". Năm 2009, Mexico nhượng 3 hòn đảo có tiềm năng du lịch và 2 khu vực màu mỡ khác cho Mỹ, tổng cộng 63,53 mẫu Anh (0,2571 km2).

Trong vài hiệp định, Mỹ có "bù đắp" lại cho Mexico một số vùng đất nhưng đều là những vùng đất khô cằn, kém tài nguyên, không thể trồng trọt, chăn nuôi. Ngược lại, những vùng mà Mỹ được từ Mexico phần lớn là những vùng đất khá màu mỡ, có tài nguyên tốt hơn.


Trận Churubusco trong cuộc chiến tranh xâm lược Mexico của Mỹ năm 1846. Quân đội Mexico đã bị quân đội Mỹ đánh tan trong trận này.

Tham chiến xâm lược Trung Quốc

Trong cuộc Chiến tranh Nha phiến lần II (1856-1860), đế quốc Mỹ đã hỗ trợ và viện trợ cho thực dân Anh - Pháp xâm lược Trung Quốc, giao tranh với quân đội nhà Thanh. Hải quân Mỹ, dưới sự chỉ huy của 2 tướng Andrew Hull Foote và James Armstrong đã đánh chìm và đánh bại thủy binh nhà Thanh trong trận sông Châu Giang (Quảng Châu).


Tàu chiến USS Portsmouth của hải quân Mỹ tham chiến trong Chiến tranh Nha phiến và trận Châu Giang

Năm 1898, trong chiến tranh xâm lược Philippines, Mỹ còn gởi khoảng 6 vạn quân từ Philippines sang Trung Quốc tham gia Bát quốc liên quân (Liên quân tám nước: Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Nga, đế quốc Áo-Hung), dưới sự thống lĩnh của tướng Adna Chaffee, xâm lược Trung Quốc, đánh bại quân nhà Thanh và lực lượng Nghĩa Hòa Đoàn.

Sau khi Bắc Kinh thất thủ, triều Thanh bị ép phải ký hiệp định bất bình đẳng, cắt đất cầu hòa và chịu nhượng bộ nhiều điều khoản bất bình đẳng khác. Các khu tô giới người Mỹ và khu vực đặc quyền của Mỹ được thành lập ở Trung Quốc và các vùng lãnh thổ thuộc nước này.


Một nhóm lính Mỹ dưới chân Vạn Lý Trường Thành năm 1898

Xâm chiếm Philippines

Cuộc chiến tranh giành thuộc địa giữa Tây Ban Nha và Hoa Kỳ bùng nổ vào năm 1898, sau cuộc chiến, Hoa Kỳ giành được Philippines và đảo Guam từ tay Tây Ban Nha, đồng thời xâm lược vịnh Guantanamo của Cuba, lúc này đang là thuộc địa của Tây Ban Nha, và giữ đến nay. Cùng năm, Mỹ tấn công vào Puerto Rico, 15 ngàn quân Mỹ đánh bại 8 ngàn quân Tây Ban Nha và 10 ngàn ngụy quân bản xứ, xâm chiếm Puerto Rico từ tay Tây Ban Nha và giữ đến nay. Sau khi giành 4 thuộc địa về tay, Mỹ trả lại cho Tây Ban Nha 20 triệu USD "tiền an ủi".

Tại Philippines, sau khi Tây Ban Nha bị Mỹ đá văng, Đệ nhất Cộng hòa Philippines được người Phi thành lập để chống Mỹ và giành độc lập, nhưng ngay lập tức Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược. Cuộc chiến giữa quân Mỹ và quân dân Philippines kéo dài 3 năm. Kết quả Mỹ chiến thắng tuyệt đối, Cộng hòa Philippines bị Mỹ giải thể, Philippines trở thành thuộc địa của Mỹ.

Năm 1946, trước áp lực và thắng lợi liên tiếp của phong trào cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc và giải phóng thuộc địa trên toàn cầu, Mỹ buộc phải nhượng bộ và tuyên bố trao trả độc lập cho Philippines trên danh nghĩa, sau gần nửa thế kỷ đô hộ Philippines theo kiểu thực dân, thuộc địa cổ điển. Đảo Guam và Puerto Rico vẫn là hai lãnh thổ phi chính thức của Mỹ.


Quân địa phương Manila của Philippines công kích một đồn quân sự của Mỹ trong trận Tondo Fire.

Xâm lược Bắc Triều Tiên

Năm 1950, đại quân CHDCND Triều Tiên do nguyên soái Kim Nhật Thành đích thân chỉ huy đã vượt vĩ tuyến 38 tấn công tổng lực xuống Hàn Quốc, tốc chiến tốc thắng tiến thẳng về thủ đô Hán Thành truy đuổi Lý Thừa Vãn. Lý Thừa Vãn bị thua, lâm nguy đành khẩn cấp cầu viện Mỹ. Chính phủ Mỹ lấy danh nghĩa Liên Hiệp Quốc, cử danh tướng Douglas MacArthur - người hùng của Thế chiến II - làm tổng chỉ huy, các tướng Matthew Ridgway, Mark Wayne Clark phụ tá, sang Hàn Quốc cứu nguy Lý Thừa Vãn.

MacArthur dùng kỳ binh làm một cuộc đột kích vào khu vực Nhân Xuyên, cắt đôi quân đội Triều Tiên, làm họ đầu đuôi không thể cứu ứng nhau. Sau đó đánh bại gần 30 vạn quân Triều Tiên. Nhân cơ hội quân Triều Tiên bị vỡ trận, hỗn loạn và không còn khả năng chống cự, gần 30 vạn liên quân 16 nước đứng đầu bởi Mỹ - Anh vượt vĩ tuyến 38 xâm lược Bắc Triều Tiên, tiến về thủ đô Bình Nhưỡng truy bắt Kim Nhật Thành và gia đình. Kim và các nhân sự cao cấp của CHDCND Triều Tiên đành đào vong sang Mãn Châu, Trung Quốc và cầu viện khẩn cấp.

Trước tình hình Mỹ - Anh đã đến sát sườn và MacArthur liên tục hạ lệnh cho ném bom và pháo kích sang phía Trung Quốc để phá hủy các căn cứ quân sự biên phòng của Trung Quốc. Mao Trạch Đông phái danh tướng Bành Đức Hoài - người hùng của nội chiến Trung Quốc và chiến tranh chống Nhật - làm tổng chỉ huy, hai tướng Đặng Hoa, Dương Đắc Chí làm phụ tá, đem hơn 100 vạn quân vượt sông Áp Lục sang Triều Tiên cứu Kim Nhật Thành.

Chỉ trong vòng một thời gian rất hạn hẹp mà Bành Đức Hoài tập kết siêu tốc được nhiều quân như vậy, đó được coi là một kỳ tích khó hiểu mà đến ngày nay với khoa học kỹ thuật tiên tiến, phương tiện chuyên chở tốc độ cao cũng vẫn khó thực hiện. Điều bất ngờ đó đã làm Mỹ và liên quân bị choáng váng trong thời gian đầu, vì đến MacArthur trước đó cũng không ngờ một cuộc tập trung quân đội siêu tốc như vậy lại khả thi. Phía Mỹ và Liên Hiệp Quốc không ngờ Trung Quốc có thể xuất quân và sang đánh nhanh như vậy.

Cuộc chiến diễn ra vô cùng khốc liệt. Sau cuộc chiến, Mỹ - Anh chiếm được vài khu vực trước cuộc chiến thuộc về CHDCND Triều Tiên. Sau đó họ giao lại cho Hàn Quốc quản lý.


Vùng kiểm soát thay đổi trong cuộc chiến. Màu hồng tượng trưng cho quân đội Trung Quốc và Triều Tiên. Màu xanh lá cây tượng trưng cho liên quân LHQ.

Tham khảo thêm: Ẩn số Triều Tiên, quá khứ - hiện tại - tương lai

Xâm lược Việt Nam, chiếm đóng miền Nam, tấn công miền Bắc

Cũng năm 1950, Mỹ dù đang bận rộn trên bán đảo Triều Tiên nhưng vẫn không quên các lợi ích của bán đảo Đông Dương. Họ bắt đầu đứng sau ủng hộ và giúp đỡ Pháp xâm lược tái chiếm Việt Nam. Năm 1954, Mỹ từng bước hất cẳng và thay chân Pháp, mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn miền Nam, tấn công những vùng giải phóng, thiết lập hệ thống thuộc địa kiểu mới trong những vùng tạm chiếm.

Từ đó, những vùng tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam có khoảng 7 triệu người Mỹ đi khắp nơi sinh hoạt như là nhà của họ, trong đó có gần 60 vạn quân Mỹ tàn phá, bắn giết, hãm hiếp, tàn sát khắp nơi. Gần nửa triệu con lai Mỹ ra đời, khiến sau này hình thành một diện xuất cảnh chưa từng có tiền lệ trên thế giới là "diện con lai".

Chiến tranh kéo dài đến năm 1975. Sáng ngày 30/4/1975, 10 người lính Thủy quân Lục chiến cuối cùng của Mỹ lên trực thăng rời khỏi lãnh thổ Việt Nam, chiến tranh kết thúc. Đây là lần duy nhất trong lịch sử mà người Mỹ đã thua cuộc và thật sự trắng tay trong một cuộc chiến.


Người dân Sài Gòn ăn mừng ngày toàn thắng lịch sử 30/4/1975

Tham khảo thêm: 9 điểm khác biệt lớn về hai cuộc chiến ở Việt Nam và Triều Tiên, Nhìn lại sự thật lịch sử để đoàn kết dân tộc Việt Nam, Hùng ca Điện Biên Phủ trên không và những thế cờ chiến lược, Ý nghĩa lịch sử của ngày 30/4/1975

Cướp phá Trung Đông và châu Phi

Năm 1801, Mỹ đem quân tấn công và cướp bóc ở vùng tam giác Bắc Phi, đánh nhau với đế chế Ottoman và vương quốc Tripoli, vùng đất của Libya ngày nay. Đến năm 1805, quân đội Mỹ đánh bại Ottoman và Tripoli, cướp đoạt tài nguyên và tài sản, ép bên kia ký hòa ước bất bình đẳng. Đồng thời họ tiện tay đánh phá Maghreb (Maroc, Algérie và Tunisia ngày nay - vùng Tây Bắc châu Phi).

Năm 2001, Mỹ cầm đầu liên quân năm nước và Liên minh phương Bắc (một thế lực lâu nay đối đầu với Taliban) công kích thẳng vào Afghanistan, đánh bại quân đội Taliban và lực lượng Hồi giáo cực đoan Al-Qaeda của thủ lĩnh Osama bin Laden, "bảo hộ" Afghanistan. Taliban và Al-Qaeda rút vào rừng núi Afghanistan tiếp tục cầm cự.

Năm 2003, Mỹ tiến hành chiến dịch "Iraq Tự do", với lý do "Saddam Hussein sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt", cầm đầu liên quân năm nước, đem gần 15 vạn quân, dưới sự chỉ huy của tướng Tommy Franks tiến công thẳng vào Iraq và tốc chiến tốc thắng tiến về thủ đô Baghdad lật đổ chính quyền Iraq và treo cổ tổng thống Saddam Hussein. Sau cuộc chiến, các nhà báo phóng viên quốc tế đổ xô vào Iraq để làm phóng sự về "vũ khí hủy diệt hàng loạt" nhưng không ai tìm thấy. Đại quân Mỹ tiếp tục chiếm đóng tại đây đến năm 2011.


Một công dân ở thành phố Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ, đã treo biểu ngữ ví Iraq như là một tiểu bang của nước này. Sau đó bị cảnh sát Seattle dẹp bỏ.

Năm 2011, Mỹ và NATO đứng sau hậu thuẫn phiến quân ở Libya, bao gồm cả các tổ chức vũ trang Hồi giáo cực đoan, trong đó có tổ chức khủng bố quốc tế Al-Qaeda.

Ngày 19/3/2011, Mỹ mở chiến dịch Phiêu lưu Rạng đông (Odyssey Dawn), đem các lực lượng không quân, hải quân, thủy quân lục chiến và đội ngũ CIA cùng với các vũ khí hạng nặng tối tân (đặc biệt là các máy bay không người lái) tiến vào lãnh thổ Libya. Quân đội Mỹ đặt dưới sự chỉ huy của tổng tư lệnh quân đội Mỹ ở châu Phi, tướng Carter Ham, tướng tư lệnh liên quân Samuel Locklear, tướng chỉ huy đặc nhiệm Harry Harris, và tướng Margaret Woodward.

Ngày 31/3/2011, Mỹ trao lại quyền điều khiển, chỉ đạo chiến dịch cho NATO với tên gọi mới là chiến dịch "Bảo vệ Thống nhất". Trong các chiến dịch này, Mỹ và NATO đã không kích tan hoang Libya, dội bom vào một số khu vực dân sự, làm chết nhiều dân thường và không yểm cho lực lượng phiến quân Libya. Cuộc chiến kết thúc với sự chiến thắng của Mỹ, NATO và phiến quân, sự sụp đổ của chế độ Libya, và cái chết của lãnh tụ, đại tá Gaddafi.
Sau cuộc chiến, Libya từ một trong những nước có kinh tế và mức sống cao nhất châu Phi, điện, y tế và giáo dục miễn phí, giá xăng rẻ, mua xe được trợ cấp 50% giá, không nợ xấu v.v. đã trở thành một nước tan hoang hoàn toàn, bắn giết liên miên giữa các phe phái, nhiều khu vực trở thành vùng ly khai, tự trị, tự quản, đa phần dùng danh nghĩa trung thành với lãnh tụ Gaddafi để chiến đấu.

Hai kế hoạch đầy triển vọng của Gaddafi là làm hệ thống dẫn nước khổng lồ, lớn nhất thế giới để cung cấp nước cho toàn bộ nông thôn Libya và cải cách hệ thống tiền tệ để thay thế đồng đô la Mỹ, không còn phải lệ thuộc vào đồng USD nữa, đã hoàn toàn tiêu tan theo khói lửa chiến tranh. Các tài sản, tiền bạc, ngoại tệ, bao gồm cả USD của Libya là tiền đóng thuế từ mồ hôi lao động của nhân dân Libya và tiền họ có được từ sự bán dầu, bán tài nguyên, bán sức lao động, đã bị Mỹ và phương Tây gọi đó là "tiền riêng của cá nhân Gaddafi ăn cướp dân lành" rồi phong tỏa, chia nhau các chiến lợi phẩm.

Xâm lược và chia cắt Samoa

 Từ năm 1886 đến 1894, liên quân ba nước Mỹ, Anh, Đức xâm lược vương quốc Samoa và thực dân hóa quần đảo Samoan (bao gồm 17 đảo), nô lệ hóa dân tộc Samoa. Sau đó ba nước quay sang tranh nhau, dùng cả lính đánh thuê bản địa giao chiến với nhau, các phe đảng bản xứ thân Mỹ, thân Anh, thân Đức giao tranh với nhau.

Kết quả là sau hiệp định Berlin 1899, nhà nước Samoa bị xóa sổ, Samoa bị chia đôi thành Đông Samoa và Tây Samoa. Mỹ chiếm Tây Samoa, hình thành American Samoa (Samoa thuộc Mỹ). Đức và Anh chia nhau Đông Samoa, sau đó Đức hất cẳng Anh và chiếm toàn bộ Đông Samoa, hình thành German Samoa (Samoa thuộc Đức). Trong Thế chiến I, lợi dụng sự thất thế của đế chế Đức, hải quân New Zealand, dưới sự hậu thuẫn của Mỹ và Úc, tiến chiếm Đông Samoa từ tay người Đức.


Các tàu chiến của Mỹ, Anh, Đức ở cảng Apia, Samoa, 1899.

Các hành động, chiến dịch khác ở hải ngoại

 Năm 1798 - 1800, cuộc hải chiến Quasi xảy ra, đó là một cuộc chiến tranh không tuyên bố với hàng loạt xung đột dai dẳng trên biển giữa hai đế quốc Mỹ và Pháp. Kết quả là Mỹ thắng, chiến lợi phẩm là thành phố lớn Puerto Plata của Dominican, lúc đó đang là thuộc địa của Pháp.

Năm 1867, Mỹ mua lại thuộc địa Alaska từ đế chế Nga. Alaska trở thành thuộc địa của Mỹ, đến năm 1959 mới chính thức thành một tiểu bang gia nhập liên bang Hoa Kỳ.

Trong Thế chiến I, Mỹ thừa cơ chiếm quần đảo Virgin từ tay Đan Mạch trong một chiến dịch công kích chớp nhoáng, biến thành sự đã rồi. Sau đó ký hiệp định với Đan Mạch để hợp thức hóa sự kiểm soát, chiếm đóng của Mỹ trên quần đảo này. Quần đảo Virgin vốn từ lâu là lãnh thổ nằm dưới quyền quản lý của ba bộ tộc Ciboneys, Arawaks, Caribs, sau đó bị các nước thực dân phương Tây xâm lược và đô hộ. Sau thời gian dài tranh nhau và thỏa hiệp, quần đảo này trở thành thuộc địa của Đan Mạch, cho tới khi bị Hoa Kỳ giành lấy.

Năm 1947, nằm trong sự phân chia lại lợi ích thuộc địa sau Thế chiến II, Liên Hiệp Quốc, dưới sức ép của Mỹ, giao lại cho Mỹ quần đảo Marshall, liên bang Micronesia, quần đảo Bắc Mariana và Palau.

Năm 1999, Mỹ và NATO cầm đầu liên quân mười ba nước, mở cuộc không kích 78 ngày đêm vào Cộng hòa Liên bang Nam Tư. Sau cuộc chiến tranh Kosovo, Mỹ và NATO càng củng cố chắc chắn hơn sự tan rã và chia cắt của Cộng hòa Nam Tư.
 
oOo


Trong các cuộc chiến bành trướng gần đây của Mỹ, có thể nói quân đội, nhân dân và đất nước Mỹ trắng tay, nhưng chính phủ Mỹ, các thế lực tư bản tài phiệt và lái buôn chiến tranh của Mỹ thì không hề tay trắng. Họ đã thành công duy trì được nguồn cầu vũ khí (trước mắt là các thế lực vũ trang mới nổi, đang đánh nhau liên miên ở các nước đã bị Mỹ đánh vào như Iraq, Aghanistan, Libya....). Mỹ tiếp tục là nguồn cung vũ khí lớn nhất và đắt hàng nhất thế giới.

Về chính trị và quân sự, họ kiểm soát, khống chế được hai đầu Trung Đông, mượn Iraq chỉa súng thẳng vào Iran, tăng cường sức mạnh cho đàn em thân tín Israel. Về kinh tế và tài nguyên, họ nắm được hai nguồn dầu lớn ở Iraq và Libya, các mỏ kim loại, vàng, kim cương, đá quý, khoáng sản, và nguồn nước ngọt dồi dào ở Libya, nguồn ma túy lớn ở Aghanistan vốn lâu nay do Taliban kiểm soát. Đồng thời họ cũng kiểm soát được hệ thống tiền tệ, tài chính ở Libya, đoạn tuyệt nguy cơ đồng USD bị Gaddafi gây hại, thay thế. Như vậy, các thế lực tư bản lớn ở Mỹ như FED, tài phiệt Phố Wall và tài phiệt lái buôn chiến tranh của các tập đoàn sản xuất, phân phối vũ khí đều có lợi.

Xem lại lịch sử thì có thể thấy từ thế kỷ 15 đến nay, quá trình bành trướng lan tỏa thực dân hóa trên phạm vi toàn cầu vẫn tiếp diễn bằng hình thức này hay hình thức khác. Bình mới nhưng rượu vẫn cũ. Từ chủ nghĩa thực dân cổ điển chuyển sang chủ nghĩa thực dân mới. Khác chăng là ở hình thức xâm lược, danh nghĩa chính trị, thủ đoạn ngụy trang, mức độ can thiệp và mức độ trục lợi.

Một điểm đáng chú ý nữa là họ hầu như luôn luôn đi "xâm lược nhóm", đi đánh các nước khác theo nhóm. Từ các cuộc gây chiến tranh thôn tính châu Mỹ (các đế quốc thực dân liên kết với nhau cùng đánh, hoặc chiêu dụ các lực lượng bản xứ nhỏ cùng theo họ đánh một lực lượng bản xứ lớn), đến Bát quốc đuổi Từ Hy ở Trung Quốc, đến liên minh các nước từ các cuộc chiến lặp đi lặp lại gần đây với mọi "lý do chính đáng". Mỹ và phương Tây gần như chưa bao giờ đánh ai một mình trong các chiến dịch xâm lược lớn.

Lịch sử cận đại và hiện đại ở nước ta cũng vậy, tất cả các cuộc chiến chống Mỹ và phương Tây xâm lược từ năm 1858 đến 1975 đều như vậy. Năm 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh vào Đà Nẵng và mở đầu cuộc xâm lược lâu dài Việt Nam. Năm 1946, Pháp theo chân Anh quay lại Việt Nam. Năm 1950, Mỹ bắt đầu tăng cường hỗ trợ và viện trợ cho Pháp xâm lược tái chiếm Đông Dương. Sau đó, Mỹ thay chân Pháp, kéo vào Việt Nam các đồng minh, chư hầu.

Nhiều người ví von hiện tượng trên với hình tượng "cướp bầy", như sư tử hay loài sói luôn đi săn mồi cả bầy, và sau đó chia nhau con mồi, chia nhau chiến lợi phẩm. Bản chất của việc xâm lược theo nhóm cũng có cùng một đạo lý đó, thực chất là sự chia chác lợi ích ở các nơi bị đánh.

Tất cả đều xuất phát từ lợi ích, có lợi ích ngắn hạn, có lợi ích dài hạn, lợi ích địa chính trị, lợi ích địa kinh tế, lợi ích tài nguyên, lợi ích chiến lược toàn cầu v.v., chứ dĩ nhiên nếu không có lợi thì không ai muốn gây chiến tranh làm gì để cho máu đổ đầu rơi, hao binh tổn tướng, tốn tiền tốn của, và còn bị dư luận chống đối, bị biểu tình phản chiến.

Một cuộc chiến tranh xâm lược có thể xảy ra từ nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân sâu xa và ý nghĩa thật sự của nó vẫn là sự ăn cướp của nước đi xâm lược đối với nạn nhân bị xâm lược. Dù họ dùng danh nghĩa chính trị gì đi nữa; tôn giáo, ý thức hệ, phản kích tự vệ, trừng phạt, bảo vệ đồng minh, bảo vệ hòa bình, bảo vệ / đem tới tự do dân chủ, thì bản chất các cuộc chiến tranh đều xuất phát từ sự tranh chấp chủ quyền, tranh chấp lợi ích. Có thể đó là lợi ích dân tộc, hay lợi ích giai cấp, hay thậm chí là lợi ích phe nhóm, lợi ích cá nhân, hay lợi ích tôn giáo, nhưng nói chung đều xuất phát từ lợi ích. Do đó nếu cho rằng Mỹ và châu Âu là những "hiệp sĩ đi cứu nhân độ thế cho hành tinh này", những "chiến sĩ tự do đi phổ biến dân chủ nhân quyền khắp quả đất này", đi đánh nước này nước kia, đem bom dội lên nước đó là để "giúp đỡ" nước đó, là vì các mục tiêu tốt đẹp, là vì chính dân tộc ở nước đó, thì thật là ngây thơ vậy.

Từ thời lập quốc tới năm 1924, quân đội Hoa Kỳ đã trải qua hơn 100 cuộc chiến và hàng vạn trận chiến lớn nhỏ trong quá trình xâm lược, thôn tính, diệt tộc, chiếm đất của các lực lượng bản địa. Các chủng tộc, dân tộc bản xứ trước đó có hàng chục triệu người, sau hơn 100 cuộc chiến chỉ còn lại chừng mấy trăm ngàn người.

Từ thời lập quốc đến năm 1973, quân đội Mỹ đã đàn áp và đánh dẹp khoảng 30 cuộc khởi nghĩa chống chế độ nô lệ, sưu cao thuế nặng, bất công giai cấp.

Từ năm 1835 đến năm 1932, quân đội Mỹ đã tham chiến trong gần 10 cuộc chiến tranh, xung đột quân sự biên giới.

Trong nửa cuối thế kỷ qua, các chính phủ Mỹ và CIA đã nhúng tay giật dây lật đổ gần 50 chính quyền nước khác, phần lớn nguyên thủ quốc gia trong số đó là do dân bầu lên. Trong quá trình đó, các trọng điểm quân sự và dân sự của gần 30 quốc gia đã bị quân đội Mỹ tấn công bằng bộ binh hoặc rải bom, không kích. Trong đó, hơn 10 quốc gia đã bị Mỹ tấn công, can thiệp trực tiếp và toàn diện, chứ không chỉ riêng về quân sự.

Trong bề dày chinh chiến hơn 200 năm đó, quân đội Hoa Kỳ chỉ chịu thất bại duy nhất 1 lần, ở Việt Nam. Tôi nghĩ đó là điều mà chúng ta nên suy ngẫm, rút kinh nghiệm, rút ra những bài học, rút ra những niềm tin chiến thắng và lòng tự tin, tự hào chính đáng để vận dụng nó cho công cuộc tái thiết và kiến thiết đất nước ngày hôm nay.

Thiếu Long

---------------------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo

- James C. Bradford (2003). Atlas of American military history. NXB Đại học Oxford (Anh)
- John Whiteclay Chambers, Fred Anderson (1999). The Oxford companion to American military history. NXB Đại học Oxford (Anh)
- Maurice Matloff (1996). American Military History: 1775-1902. NXB Da Capo
- Maurice Matloff (1996). American Military History: 1902-1996. NXB Da Capo
- Thomas Harry Williams (1960). Americans at War: The Development of the American Military System. NXB Đại học Bang Louisiana
- Jerry K. Sweeney, Kevin B. Byrne (2006). A handbook of American military history. NXB Đại học Nebraska
- Miller, Stuart Creighton (1984), Benevolent Assimilation: The American Conquest of the Philippines, 1899-1903, NXB Đại học Yale
- J. Y. Wong (1998), Deadly Dreams: Opium, Imperialism, and the Arrow War (1856–1860) in China, NXB Đại học Cambridge (Anh)
- Smokey Forester, Jack Leustig, Gregory Harrison, Kevin Costner, Roberta Grossman, Lee Miller, Lisa Sonne, Dyanna Taylor, Debra Spidell, Rick Blue, Edgar Burcksen, Susan Crutcher (1995), phim tài liệu 500 Nations (8 phần), Discovery Channel

- Tài liệu Internet
[...]

Comments

Vào những ngày này 34 năm trước (1979), bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh bất ngờ xua hơn 50 vạn quân vượt biên cương, hùng hổ xua quân đánh thẳng vào 6 tỉnh miền Bắc Việt Nam, mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta.

Đất nước Việt Nam lúc bấy giờ đang là một đất nước mang đầy thương tích chiến tranh, chịu nhiều hậu quả chiến tranh tàn khốc, chịu đựng gần 9 triệu tấn bom và chất độc hóa học, nhiều gần gấp 3 lần tổng số bom cả thế giới rải vào nhau trong 2 cuộc Thế chiến. Việt Nam vừa trải qua thời kỳ chiến tranh dài nhất trong Việt sử và một trong các thời kỳ chiến tranh dài nhất trong lịch sử thế giới.

Quân đội Nhân dân Việt Nam lúc đó đang là một quân đội mang đầy vết thương chiến tranh chưa lành, đang vướng chân và chịu gánh nặng Campuchia, phải bổ sung nhiều lính mới cho chiến trường ở cả hai đầu đất nước, phía Nam và phía Bắc.

Song quân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, TBT Lê Duẩn, và sự tham mưu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã đánh bại và đẩy lùi hơn 50 vạn quân Trung Quốc xâm lược, gây cho chúng những tổn thất vô cùng lớn lao. Kết quả là chúng phải đơn phương lui binh về nước sau những thiệt hại nặng nề. Nhục nhã chuồn nhanh trước khi quân chủ lực Việt Nam ra Bắc.

Sau 1 tháng thử lửa, Bắc Kinh thừa biết rằng nếu ngay cả những tân binh địa phương, bạch đầu quân, nữ du kích, dân quân, tự vệ mà họ còn không vượt qua nổi, thì chắc chắn họ không có cơ hội nào cầm cự nổi với lực lượng đại quân, tinh binh, các lực lượng chủ lực, thiện chiến, nhiều kinh nghiệm chiến đấu, nhiều chiến công của Việt Nam, những sư đoàn vừa mới giao chiến và đánh bại đạo quân vô địch Hoa Kỳ cách đây không lâu.

Đó là lý do Trung Quốc phải bắt đầu rút quân từ ngày 5 tháng 3. Việt Nam nói rằng sẽ thả cho Trung Quốc rút về, nhưng sau đó bất ngờ đón đánh, truy kích, phục kích nhiều nơi để răn đe, trả đũa. Do đó mà chiến sự tiếp diễn nhiều nơi. Và phải đến ngày 18 tháng 3 năm 1979 thì Trung Quốc mới hoàn thành việc rút quân sau 13 ngày lui binh "trầy da tróc vẩy".


Giáo dục lịch sử bảo vệ đất nước giai đoạn 1975-1979 trong sách giáo khoa Việt Nam

Các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh luôn tạo ra niềm cảm hứng viết bài trong tôi, đặc biệt là cuộc chiến này. Đây là một sự kiện lịch sử lớn, là một cuộc chiến tranh lớn, đến nỗi có học giả nước ngoài còn gọi đây là "Chiến tranh Đông Dương 3", do đó nên có sự ghi nhớ, kỷ niệm về nó không nhiều thì ít. Nếu chưa tiện trên các báo chí chính thống thì vẫn nên tuyên truyền rộng rãi trên blog, diễn đàn, để làm rõ chiến công của quân dân ta. Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ, chia sẻ một số cảm nghĩ, nhận xét, thông tin về đề tài này và mấy vấn đề liên quan.

Nên xác định đúng ngày kỷ niệm chiến thắng biên giới phía Bắc 1979

Bắt đầu từ ngày 17/2/2013, cùng với sự kiện Trung Quốc kéo quân sang xâm lược Việt Nam vào ngày này 34 năm trước, BBC Việt ngữ và nhiều blogs đăng nhiều bài về cuộc chiến này. Nhiều người còn gọi đó là để "kỷ niệm" cuộc chiến tranh này. Lúc đầu tôi cũng không nghĩ nhiều, thấy ừ thì cũng đúng, định hòa theo những người đó viết bài "kỷ niệm ngày 17/2". Nhưng giật mình nghĩ lại thì thấy có vấn đề rất lớn, chúng ta đã nhầm lẫn ngay từ đầu.

Từ mấy ngàn năm trước đến ngày nay, ở nước Việt cũng như các nơi khác trên thế giới, người ta thường chỉ kỷ niệm những sự kiện tích cực, những sự kiện đem đến niềm vui. Về chiến sử thì đó là những chiến công, những gương chiến thắng. Không ai đi kỷ niệm ngày người ta đánh mình cả.

Cha ông, cha anh chúng ta không đi kỷ niệm ngày giặc Nguyên, giặc Thanh vào đánh ta. Dân ta không kỷ niệm ngày quân Pháp - Tây Ban Nha (1858) và Mỹ (1965) đổ bộ vào cảng Đà Nẵng. Dân ta kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng, Đống Đa, Điện Biên, Điện Biên Phủ trên không, sự kiện ký hiệp định Paris, Đại thắng mùa xuân. Tức là những chiến công hoặc những sự kiện quan trọng mang tính bước ngoặt dẫn đến chiến thắng và thằng giặc phải cút khỏi nước ta. Không ai đi "kỷ niệm" ngày thằng giặc đánh mình cả.

Ngoài trường hợp những sự kiện quân sự diễn ra trong 1 ngày (ví dụ Trân Châu Cảng, hải chiến Trường Sa....), ngày đánh lui, đánh thắng địch cũng là ngày địch đánh ta, thì không ai ở Việt Nam và trên thế giới này kỷ niệm ngày địch đánh ta, mà họ chọn ngày đánh lui địch để làm ngày kỷ niệm. Các cụ ta không kỷ niệm ngày quân Pháp đổ bộ nổ súng đánh Đà Nẵng, thay vào đó là kỷ niệm ngày giành được độc lập, ngày thắng giặc, ngày đánh đuổi quân giặc về nước, ngày mở đường cho quân Pháp, quân Mỹ về nước, ngày giải phóng, ngày thống nhất. Cũng như người Mỹ không kỷ niệm ngày thực dân Anh đưa quân vào đánh. Họ kỷ niệm ngày đánh đuổi quân Anh và lấy đó làm lễ Độc Lập (Independence day). Kể cả các lễ hội dân gian cũng không ai đi kỷ niệm những ngày như vậy.

Tôi nghĩ hiện tượng đó là hợp tình hợp lý, bởi vì nếu kỷ niệm ngày giặc đánh mình thì nó nói lên điều gì, nó gởi lên thông điệp gì, nó gởi thông điệp gì cho giới trẻ và con cháu đời sau? Nó có nghĩa là ta lấy thằng giặc làm trung tâm và nhân vật chính. Ta kỷ niệm ngày thằng giặc đánh ta. Ta kỷ niệm một hành động của giặc, kỷ niệm hành động đánh ta của giặc. Thay vì kỷ niệm ngày vui chiến thắng của ta. Kỷ niệm hành động của ta, kỷ niệm hành động đuổi giặc của ta. Kỷ niệm sự thắng lợi của ta. Lấy ta làm trung tâm và nhân vật chính.

Như vậy, theo tình lý trên, theo truyền thống cha ông, thì ngày cần kỷ niệm là ngày chiến thắng biên giới phía Bắc, chính là ngày 18/3, là ngày mà đoàn quân xâm lược sứt mẻ của Trung Quốc hoàn thành việc rút đại quân ra khỏi Việt Nam, để lại hàng vạn xác đồng đội xâm lăng. Chứ tuyệt đối không phải là ngày 17/2. Đó là tư tưởng của nạn nhân giơ đầu chịu đánh, chứ không phải là tư tưởng của một dân tộc quật cường chống xâm lược và quyết chiến quyết thắng bọn giặc xâm lược. Chúng ta nên kỷ niệm ngày ta đuổi giặc, ngày ta thắng giặc. Không nên kỷ niệm ngày giặc đánh ta, ngày ta bị đánh, ngày ta bị giặc đánh.


Truyện tranh chống bành trướng

Tôi không rõ đây là tư tưởng thuộc địa hay "văn hóa buồn bã", tinh thần tiêu cực, hay "ai đó" cố ý kích thích lòng căm thù nước Trung Quốc và tinh thần bài Hoa (nếu nhớ không lầm thì chính BBC Việt ngữ là kênh đầu tiên khởi sự đăng bài dồn dập về ngày 17/2 hàng năm), nhưng nói chung đây là một tư duy không đúng và mâu thuẫn với chủ đạo dân tộc Việt Nam, đi ngược với những truyền thống mà cha ông, cha anh ta hay làm.

Bên Trung Quốc, nhiều người kỷ niệm ngày 17/2 là ngày TQ đem quân tấn công Việt Nam, chứ họ không kỷ niệm ngày 18/3 là ngày họ lết về nước với những người lính thân tàn ma dại, mình đầy băng bó, bỏ lại hàng vạn xác đồng đội phơi la liệt khắp 6 tỉnh biên giới Việt Nam. Phải chăng BBC Việt ngữ đã rập khuôn quan điểm chính thống của Trung Quốc về kết quả cuộc chiến? Người Hán chưa bao giờ thừa nhận thất bại trong tất cả các cuộc chiến nào của lịch sử Trung Quốc. Cuộc chiến này cũng không ngoại lệ. Phải chăng mục đích của BBC Việt ngữ là biến một sự kiện kỷ niệm chiến thắng tích cực thành một sự kiện tưởng niệm chiến bại buồn bã tiêu cực? Hay biến thành một ngày "quốc hận" nào đó?

Nếu muốn kỷ niệm, ca ngợi, biết ơn chiến công đánh bại giặc Tàu xâm lược, để làm gương chiến đấu cho con cháu, để cho con cháu ngày sau tiếp tục noi theo đánh giặc bảo vệ làng xóm đất nước quê hương thì cần kỷ niệm ngày thắng giặc, ngày mà chúng nó cút về nước, chứ tuyệt đối không phải là ngày mà chúng nó đánh ta. Đó là ngày của nạn nhân bị ăn đòn, không phải là ngày chiến thắng, ngày đánh bại kẻ thù. Ngày kỷ niệm cuộc chiến biên giới phía Bắc 1979 phải là ngày 18 tháng 3. Chúng ta nên làm theo phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của ông cha, không nên làm theo BBC Việt ngữ.


Bích chương cổ động chống Trung Quốc. Ảnh chụp của phóng viên Bill Herod.

Chiến tranh năm 1979 giống cuộc chiến chống ngoại xâm nào trong Việt sử?

Theo kiến thức cơ bản nhất về lịch sử nước mình, tôi nghĩ cuộc chiến năm 1979, nhất là kết cục của nó, có nét giống với cuộc chiến Lê Đại Hành đánh Tống trong thời Tiền Lê, Lý Thường Kiệt đánh Tống trong thời nhà Lý, Trần Hưng Đạo đánh Nguyên Mông trong thời nhà Trần, và 2 cuộc kháng chiến quy mô lớn gần đây nhất; chống Pháp và Mỹ.

Lê Đại Hành và Lý Thường Kiệt đều phải đánh Chiêm Thành trước để rảnh tay kháng Tống, tránh không để rơi vào bẫy gọng kìm "lưỡng đầu thọ địch" (hai đầu gặp địch). Tướng Lê Khả Phiêu, Lê Trọng Tấn và quân đội CHXHCN Việt Nam phải đánh Khmer Đỏ trước để ổn định mặt trận phía Nam. Nhưng khác xưa là chưa bình định hết thì quân phương Bắc đã kéo tới cửa.

Quân nhà Lê và quân nhà Lý đều cầm chân địch tại phòng tuyến Bình Lỗ và Như Nguyệt. Trường hợp chiến tranh Lê - Tống là giặc tự tháo lui sau khi thấy không chọc thủng nổi phòng tuyến Bình Lỗ. Trường hợp chiến tranh Lý - Tống là quân nhà Lý sau khi gây thiệt hại, thương vong nặng nề cho địch thì đã chủ động nghị hòa trước. Rồi tướng giặc mới rút quân về sau khi thấy đánh mãi mà vẫn không xuyên qua nổi phòng tuyến Như Nguyệt, trong khi ngày càng hao binh tổn tướng.


Truyện tranh chống bành trướng

Trong chiến tranh Đại Việt - Nguyên Mông, ta cũng gây cho chúng những thiệt hại to lớn bằng du kích chiến và chiến tranh nhân dân, quấy rối, phá hoại, đánh tiêu hao, giết dần giết mòn sinh lực địch, đến khi địch không chịu nổi nữa phải rút quân, thì triển khai phục kích tiêu diệt. Thiên tài quân sự Trần Hưng Đạo đã thành công ém quân phục kích ở cả hai đường thủy - bộ, đánh tan giặc trong lúc chúng đang rút về.

Năm 1979, ta đặt phục binh ở ngả Chi Mã. Nhưng sau đó do sự phối hợp thiếu ăn ý nhịp nhàng giữa sư đoàn 337 và 338, cũng như sự rút kinh nghiệm các chế độ trước của CHND Trung Hoa nên họ đã đề phòng và không lạc sâu vào trận địa mai phục. Do đó hai cánh quân 337 và 338 tuy có gây tổn thương lớn cho giặc, nhưng mưu kế phục kích đã không đem lại kết quả thắng lớn như mong đợi. Như vậy, trong kháng chiến chống Nguyên Mông thì quân ta phục kích trúng. Trong chiến tranh biên giới chống CHND Trung Hoa thì quân ta phục kích hụt. Thế nên cuộc chiến chống Nguyên Mông mới có trận quyết chiến chiến lược Bạch Đằng Giang lưu danh muôn thuở. Còn cuộc chiến chống Trung Quốc năm 1979 không có trận đại thắng quyết chiến chiến lược nào tương tự.


Truyện tranh chống bành trướng

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, giặc đều phải rút quân về nước. Chỉ khác nhau ở chỗ Pháp và Mỹ ký hiệp định rồi mới rút quân. Trung Quốc năm 1979 thì phải đơn phương rút quân do bị thương vong quá nhiều và không thể tiến thêm bước nào, không thể chọc thủng phòng tuyến của Việt Nam.

Thần uy và lòng nhân ái bao la của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Trước cuộc xâm lấn của quân đội phương Bắc trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung. Trong không khí cả nước ra trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã noi gương chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài kêu gọi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đứng lên đánh đuổi quân bành trướng Bắc Kinh. Bài viết có tựa đề rất giản dị và minh bạch: NHÂN DÂN VIỆT NAM NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI, GIẶC TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC NHẤT ĐỊNH THẤT BẠI.

Bài kêu gọi này như những bài hịch truyền, lời hiệu triệu của Bác Hồ năm xưa kêu gọi toàn quốc đứng lên đánh Pháp đuổi Mỹ, giành lấy độc lập chủ quyền, thống nhất bờ cõi.

"Bài hịch truyền" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt đầu bằng đoạn:

Cuộc kháng chiến cứu nước thần thánh chống giặc Trung Quốc xâm lược, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang diễn ra quyết liệt ở các tỉnh biên giới phía bắc của nước ta.

Ngày 17 tháng 2 năm 1979, bọn cầm quyền phản động Bắc Kinh đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn chống nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ những ngày đầu, quân và dân ta ở các tỉnh biên giới, từ Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, đến Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh đã nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, chiến đấu cực kỳ anh dũng bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc, gây cho quân giặc những tổn thất nặng nề.

Hưởng ứng Lời kêu gọi của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta từ Bắc chí Nam, ức triệu người như một, nhất tề đứng lên, chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Cả nước ta đang hướng về tiền tuyến phía bắc, sôi sục căm thù, tăng cường sẵn sàng chiến đấu, ra sức lao động quên mình, quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Trung Quốc xâm lược.

Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã công bố lệnh tổng động viên trong cả nước, để bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa: chủ trương quân sự hóa toàn dân, vũ trang toàn dân đang được khẩn trương thực hiện để đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của bọn bành trướng và bá quyền Trung Quốc.


Và kết thúc bài bằng đoạn:

Cả nước lên đường ra trận.

Giương cao ngọn cờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh đứng đầu là đồng chí Lê Duẩn kính mến, với quyết tâm cao, với niềm tin lớn, quân và dân ta kiên quyết tiến lên, đánh thắng cuộc chiến tranh phi nghĩa của giặc Trung Quốc xâm lược, đưa sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam đến toàn thắng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Bọn phản động Trung Quốc xâm lược nhất định sẽ thất bại !

Nhân dân Việt Nam nhất định thắng lợi !

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa muôn năm !


Phần đầu mở bài thể hiện sự uy dũng của Thánh Gióng. Phần cuối kết bài cũng thể hiện sự uy vũ đó, nhưng đồng thời cũng thể hiện sự bao dung, vị tha, bác ái của Trần Hưng Đạo.

Một số giai thoại "thâm cung bí sử" cho biết lúc đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp và TBT Lê Duẩn đang có nhiều bất đồng chính kiến, có nhiều khác biệt và mâu thuẫn không nhỏ. Song khi giặc đến nhà thì gạt sang hết qua một bên.

Đọc tới đoạn cuối bài viết đó tôi liên tưởng ngay tới giai thoại thời Trần, khi lúc đó Trần Hưng Đạo và Trần Quang Khải đang có mâu thuẫn lớn, hai người bằng mặt không bằng lòng. Nhưng đến khi giặc Nguyên Mông đến cửa thì lập tức gạt hết mọi ân oán sang bên. Đức Thánh Trần đã mời Trần Quang Khải đến tắm chung để giảng hòa.

Xưa và nay, dù trong nội bộ chính trị có bất hòa gì đi nữa thì khi có giặc đều lập tức thuận hòa, gạt bỏ việc riêng, gác lại mọi vấn đề cá nhân, hiềm khích, để bắt tay nhau chống ngoại địch, bảo vệ sơn hà.

Bài kêu gọi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất dài. Bạn nào cần đọc toàn văn thì bấm vào đây (phần comment)


Tranh cổ động quân đội chiến đấu chống bọn bá quyền xâm lược

Mục tiêu chiến lược của Trung Quốc

Sự "nói 1 đàng làm 1 nẻo" và tiền hậu bất nhất, thiếu nhất quán trong các tuyên bố và hành động của Đặng Tiểu Bình và chính phủ Trung Quốc khi đó đã cho thấy họ không chỉ có một mục tiêu duy nhất, mà họ có những mục tiêu không giống nhau, có mục tiêu ưu tiên, có mục tiêu dự phòng. Những mục tiêu thật sự của Trung Quốc trong cuộc chiến này có lẽ phải chờ rất lâu để có thể được giải mật. Còn hiện tại căn cứ trên nhiều tài liệu Việt Nam và nước ngoài, qua phân tích, theo nhận xét riêng thì tựu trung mục tiêu của Trung Quốc là như sau:

Thượng sách - Xâm chiếm thủ đô Hà Nội và miền Bắc Việt Nam. Biến miền Bắc VN thành một thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài Việt Nam. Vì mục tiêu cao nhất này nên quân Tàu đã tìm đủ cách để kéo tới Hà Nội nhưng bất lực bởi không vượt qua được các hàng phòng thủ của VN và thủ đô Hà Nội được bảo vệ bởi Quân đoàn 1. Trước đó Quân đoàn 1 đã xây dựng một phòng tuyến, bao gồm nhiều hàng rào phòng ngự dày đặc đóng quanh bảo vệ thủ đô Hà Nội, ngăn giặc tiến sâu vào vùng trung châu. Phòng tuyến này kiên cố hơn phòng tuyến Như Nguyệt của nhà Lý trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược.

Trước cuộc Nam xâm, tướng Dương Đắc Chí, một trong hai tướng chỉ huy của Tàu, đã ngạo mạn nói với thuộc cấp và binh lính đại ý: Chúng ta sẽ ăn Phở Việt Nam ở Hà Nội! Và nếu thích thì chúng ta cũng thừa khả năng tiến thẳng đến Hà Nội buổi sáng, đến Huế buổi trưa, và Thành phố Hồ Chí Minh buổi chiều.

Để chuẩn bị cho kế hoạch đó, Trung Quốc đã thủ sẵn quân bài Hoàng Văn Hoan và đồng bọn, đến lúc chín muồi sẽ đưa Hoan về làm "thủ lĩnh anh minh" và thiết lập ngụy quyền, bắt lính, từng bước xây dựng ngụy quân. Thành lập "quốc gia", sau đó thỏa thuận cho các đồng minh, đàn em công nhận và thiết lập ngoại giao với "quốc gia" đó.

Nói chung, đây là mục tiêu nằm trong phần kế hoạch bành trướng xuống Nam của chủ nghĩa bá quyền đại dân tộc, là một phần trong âm mưu Nam xâm, cướp nước, lấy miền Bắc VN làm bàn đạp để từng bước thôn tính khu vực Đông Dương và Đông Nam Á, hay ít nhất là khống chế khu vực này để cướp tài nguyên và trục lợi. Nối tiếp chuỗi dài "truyền thống" chủ nghĩa nước lớn, chủ nghĩa Đại Hán của phong kiến Trung Hoa.

Mục tiêu này ngay từ những ngày đầu chiến cuộc đã tỏ ra khó khả thi. Sau này thực tiễn chiến trường cũng cho thấy Trung Quốc ngay cả một tia hy vọng nhỏ đến được thủ đô Hà Nội cũng không có. Mục tiêu này do đó đã phá sản ngay từ thời gian đầu.

Trung sách - Xâm lấn đất đai lãnh thổ. Lấn chiếm vùng biên giới Việt - Hoa, đặc biệt là các thị xã then chốt bao gồm Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai. Vùng chiếm đóng dự kiến với bề sâu chừng vài chục km sẽ được Trung Quốc sử dụng làm bàn đạp cho các cuộc tấn công vào sâu nội địa Việt Nam. Trước là lấn đất - giành dân, tranh thủ chiếm lợi về đất đai và tài nguyên. Sau là tạo tiền đề thuận lợi cho việc xâm lược lâu dài.

Kế này nhằm làm tiêu hao lực lượng chủ lực và làm suy yếu khả năng phòng ngự của Việt Nam, xóa sổ các đồn biên phòng và một phần lực lượng vũ trang địa phương và các đơn vị vũ trang khác của Việt Nam.

Hạ sách - Cướp bóc, phá hoại, hủy diệt! Gây tổn thương nguyên khí và sinh lực Việt Nam, gây sốc cho tinh thần Việt Nam. Gây sức ép, áp lực Việt Nam phải bỏ dở kế hoạch tiêu diệt Pol Pot và Khmer Đỏ, tái thiết nước bạn Campuchia. Ép Việt Nam phải thay đổi chính sách đối ngoại với Trung Quốc, Liên Xô, Khmer Đỏ và chính sách đối nội với các tầng lớp tư sản mại bản Hoa kiều. Hủy hoại cơ sở hạ tầng và nền kinh tế để đưa nền kinh tế Việt Nam tới chỗ kiệt quệ rồi sụp đổ. Tạo tiền đề đưa chế độ tới chỗ suy vong, sụp đổ, tìm cơ hội đưa tay sai bù nhìn Hoàng Văn Hoan về nước làm "thủ lĩnh anh minh".

Tất cả các thông tin về cuộc chiến này đều cho thấy: Cuối cùng Trung Quốc không đạt được điều nào trong 3 "sách" trên, trái lại bị thương vong quá nhiều phải chạy dài về nước. Họ không đến được Hà Nội, không có cơ hội nào đem Hoàng Văn Hoan về Việt Nam. Họ không thiết lập được một bàn đạp nào để xâm lược lâu dài, vài chục km đất địch cố giữ đều bị ta lần lượt giành lại trong các trận chiến sau này. Họ không tiêu diệt được sư đoàn nào hay lực lượng lớn nào của VN. Họ không buộc nổi VN từ bỏ nghĩa vụ ở Campuchia. Họ không ép buộc nổi VN thay đổi 1 chính sách nhỏ nào.


Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979

Những ngọn lửa hòa bình giữa Bắc Kinh

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc chưa đủ bề dày thời gian như cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ (1 tháng so với 21 năm), do đó nó chưa tích tụ đủ sự phẫn nộ để hình thành một cuộc chiến như cuộc chiến trong lòng nước Mỹ.

Nhưng từ khi thế lực cuồng chiến Trung Nam Hải tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược vào quốc gia mà trước đó họ còn gọi là "huynh đệ", "đồng chí", "đồng minh", tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh đã tự vạch mặt là kẻ thù nguy hiểm của Việt Nam, Đông Dương và Đông Nam Á, là đối lập với các giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, và của hòa bình, ổn định trong khu vực. Đồng thời họ bỗng dưng trở nên lạ lẫm, khác thường đối với chính nhân dân Trung Quốc, đặc biệt là các bộ phận quý trọng hòa bình, tôn trọng công lý trong nhân dân Trung Hoa.

Người dân Trung Quốc sẽ nghĩ gì, tin gì, khi chỉ 10 năm trước đó (1969), thống soái Mao Trạch Đông của họ đã gởi 2 câu đối miêu tả chủ tịch Hồ Chí Minh:

"Chí khí tráng sơn hà, kim cổ anh hùng duy hữu nhất
Minh tinh quang nhật nguyệt, Á Âu hào kiệt thị vô song"


("Chí khí trải núi sông, anh hùng xưa nay chỉ có một
Sao sáng chiếu mặt trời và mặt trăng, hào kiệt Á - Âu không có hai")

Rồi bây giờ Đặng Tiểu Bình lại làm chuyện này? Người dân TQ sẽ nghĩ gì, tin gì, khi trong thời chống Pháp, Mao Trạch Đông gởi đoàn chuyên gia Trung Quốc sang giúp Việt Nam chống thực dân Pháp đã dặn đoàn: "Tổ tiên chúng ta trước đây đã làm một số việc không phải với nhân dân Việt Nam, các anh sang giúp nước bạn lần này là để trả nợ cho cha ông." Trong chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên sau khi Việt Nam thắng Pháp, Thủ tướng Chu Ân Lai đã tới dâng hương tại đền thờ Hai Bà Trưng.

Vậy mà, bỗng dưng đùng một cái, Đặng Tiểu Bình và Trung Quốc trở mặt nhanh chưa từng thấy. Báo chí nhà nước Trung Quốc và cả Đặng Tiểu Bình đùng đùng chửi bới Việt Nam. Chưa ai kịp định thần để hiểu đầu cua tai nheo gì thì họ đã đưa quân tổng tấn công Việt Nam. Một sự phản phé, trở mặt nhanh không thể nào ngờ. Trong lịch sử đối ngoại, ngoại giao thế giới, có lẽ chưa có chính phủ nào tráo trở, bội phản nhanh chớp nhoáng đến mức độ đó. Hoàn toàn trở mặt, quay ngược 180 độ, từ minh hữu thành cừu địch chỉ trong tích tắc.

Sự thay đổi quá nhanh và quá bất ngờ, không cho thời gian để dân chúng chuẩn bị tâm lý đó đã tạo ra phản ứng trái chiều. Và cũng ngay từ lúc tập đoàn bành trướng bá quyền trong giới cầm quyền Trung Nam Hải vừa mới phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, thì ngay ở thủ đô Bắc Kinh đã dấy lên một cao trào phản chiến mạnh mẽ. Do cuộc chiến ngắn nên phong trào phản chiến của nhân dân Trung Quốc chưa đủ thời gian để chín muồi và phát triển lớn mạnh, sâu rộng như phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ trước đây, nhưng nó cũng đủ làm cho bọn cuồng chiến bá quyền ở Bắc Kinh và Đặng Tiểu Bình phải chột dạ.

Thời đó, một loạt những tên ký dưới các truyền đơn và báo tường được người dân Bắc Kinh dán dày đặc trên khắp đường phố, người ta cũng đủ thấy trong lòng của thủ đô Trung Quốc đang tiềm ẩn mầm mống chống chiến tranh không hề nhỏ. Nguy cơ nổ ra biểu tình, bạo loạn, bất ổn đường phố, là có.

Nhiều tổ chức, hội kín hoạt động như: Đồng minh công nhân trẻ đấu tranh cho dân chủ và phồn vinh, Phản đế Liên hiệp hội, Giác Ngộ hội, Ủy ban hoạt động cho công lý, Liên minh nhân dân đấu tranh cho chân lý…. họ đều lên tiếng phản đối chiến tranh, và một loạt tập san phát hành bí mật như: Giác ngộ, Đấu tranh, Thức tỉnh, Chân lý, Diễn đàn nhân dân…. được lưu hành ở nhiều nơi, liên tục vạch mặt chính sách diều hâu cuồng chiến của Trung Nam Hải.

Có nhiều tờ truyền đơn đã lên án bọn cuồng chiến ở Trung Quốc bằng những lời lẽ đanh thép. Tờ truyền đơn của tổ chức Công nhân trẻ Đồng minh dán trên tường đã nghiêm khắc lên án:

“Hỡi bọn phản bội ở Trung Nam Hải! Nhân dân Trung Quốc không tin những lời giả dối của các ngươi nữa. Các người xúi giục nhân dân Trung Quốc để chống lại những người anh em Việt Nam, mưu đồ đó sẽ không bao giờ thành công. Tất cả những người Trung Quốc thật sự yêu nước sẽ hô to khẩu hiệu “Không được đụng đến Việt Nam” như trong thời kỳ đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam”.


Tờ truyền đơn của Phản đế Liên Hiệp hội kêu gọi:

“Hỡi đồng bào! Hỡi những người Trung Quốc chân chính!

Bọn hắc bang đã xé toang mặt nạ của chúng. Sự tán tụng và xúi giục của chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã làm cho đầu óc chúng mê nuội. Chúng đã đưa quân tiến đánh Việt Nam. Ngày 17 tháng 2 năm 1979 là ngày sỉ nhục mà những người lao động Trung Quốc vĩnh viễn không bao giờ quên! Phải thanh toán con quỷ khát máu Đặng Tiểu Bình đã đẩy nước ta vào một cuộc chiến tranh tàn sát giữa những người anh em với nhau. Trong ngày đó, Đặng chẳng những đã giương lên ngọn cờ đen gây chiến tranh xâm lược chống nước láng giềng Việt Nam mà còn giương cả ngọn cờ đen nội chiến chống lại nhân dân Trung Quốc. Đả đảo bọn hắc bang Đặng Tiểu Bình, những tên đại lý của chủ nghĩa đế quốc đã bán rẻ linh hồn cho đế quốc Mỹ!”.


Trong những ngày Trung Hoa kéo quân đi xâm lăng Việt Nam, nhiều tổ chức chống chiến tranh xâm lược và nhiều tầng lớp nhân dân Trung Quốc phẫn nộ lên án tội ác bọn cuồng chiến Trung Nam Hải rất sôi nổi và rộng khắp tới mức chính quyền Bắc Kinh đã phải mặt dày ra lệnh cấm viết báo chữ to và cấm phát biểu ý kiến về cuộc chiến. Họ càng phơi bày bộ mặt thật và sự lúng túng, bị động của mình.

Nhân dân Trung Quốc không phải là xấu, nhiều bộ phận dân Trung Quốc quả thật có thiện cảm, có cảm tình, và gắn bó mật thiết với Việt Nam, thật sự xem Việt Nam là bằng hữu, thậm chí còn là thân hữu, huynh đệ. Năm 1977, nhà máy dệt Vĩnh Phúc do Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam, sau một hồi chạy thử vẫn không hiện đúng màu nhuộm cần thiết, một kỹ sư Trung Quốc đã bí mật cung cấp cho VN bí quyết. Sau đó sự việc bị lộ, bọn phản động bá quyền đã tra tấn người kỹ sư đó tới chết. Khi đoàn chuyên gia Trung Quốc thi công cầu Thăng Long bị cấp trên của họ tráo trở điều về nước, một số đồng chí đã để lại nhiều bản vẽ, tài liệu kỹ thuật về chiếc cầu này cho Việt Nam.

Do đó xưa nay Việt Nam luôn xác định chống bọn phản động bành trướng bá quyền Bắc Kinh chứ không chống toàn Trung Quốc hay nhân dân Trung Quốc. Chống thực dân Pháp chứ không chống cả nước Pháp hay nhân dân Pháp. Chống phát xít Nhật chứ không chống cả nước Nhật hay nhân dân Nhật. Chống đế quốc Mỹ (chủ nghĩa đế quốc của Mỹ) chứ không chống cả nước Mỹ hay nhân dân Mỹ. Những thành phần chống Việt, hiếu chiến, cực đoan, lái buôn chiến tranh, theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, quá khích, diều hâu, có những chủ trương đường lối, quan điểm, lợi ích trái ngược với nguyên tắc độc lập tự do và lợi ích của ta thì những kẻ đó mới chính là đối tượng đấu tranh. Còn nhân dân là vô tội, vô can. Như Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn xác định lâu nay: Việt Nam mong muốn làm bạn, làm đối tác tốt của tất cả các dân tộc, nhân dân trên thế giới. Hiến pháp và luật pháp Việt Nam cũng không cho phép sự kỳ thị, phân biệt chủng tộc.

Không được đụng đến Việt Nam!

Trong thời đại Hồ Chí Minh, quân đội của Việt Nam được xem là một trong những quân đội tinh nhuệ, thiện chiến hàng đầu thế giới, với tư cách là một quân đội đã chiến thắng đoàn quân vô địch Hoa Kỳ. Hình ảnh của quân đội Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh luôn là một đội quân chân trần - chí thép, đối với dân luôn khoan hòa, lễ phép, còn đối với giặc thì "đạp lên đầu thù, dẫm lên cờ địch" mà từng bước đi qua xác quân giặc. Câu "Đường vinh quang xây xác quân thù" trong quốc ca Việt Nam đã nói lên phần nào ý nghĩa đó.

Một quân đội mà dù dính bao nhiêu vết thương trên mình thì vẫn đánh đâu thắng đó, dù thua trận chiến nhưng vẫn sẽ thắng cuộc chiến. Người đầy thương tích, vũ khí lạc hậu cũ kỹ thô sơ nhưng đánh thắng hết giặc này đến giặc khác. Bọn giặc nào phải kẻ tầm thường, họ là 3 trong 5 siêu cường thuộc Hội đồng bảo an của Liên Hiệp Quốc (Pháp, Mỹ, CHND Trung Hoa). Trong quân sử Việt Nam và thế giới thật khó kiếm một lực lượng quân đội nào anh hùng hơn, chưa thấy một quân đội nào đánh bại nhiều giặc hơn, đánh bại những loại giặc mạnh hơn.

Một quân đội anh hùng như vậy, với một tư cách như vậy, với một "thương hiệu" như vậy thì sẽ làm gì khi có quân giặc dám xâm lược Việt Nam? Những tên giặc ở quá xa như Pháp, Mỹ thì Việt Nam không thể phản công trả đũa vào nhà họ để tiêu diệt hậu cần và nguồn gốc xâm lược. Việt Nam chỉ có thể giáng cho họ những tổn thất, thương vong tột cùng, gieo rắc vào đầu họ những hội chứng, ám ảnh không thể nào quên, trở thành những vết thương không bao giờ lành. Số lượng quân nhân Mỹ bị mắc bệnh tâm thần trong và sau thời gian chiến đấu ở Việt Nam là nhiều nhất trong tất cả các cuộc chiến mà quân đội nước này tham gia trong lịch sử.


"Hội chứng Việt Nam" của người Mỹ

Lần đầu tiên, vào năm 1988, chính phủ Mỹ buộc phải thừa nhận có khoảng 50.000, tức là 15% trong số lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam trở về vẫn còn bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Cựu binh Jim Doyle và David Curry chỉ là 2 trong số gần 60 vạn quân Mỹ bị chính phủ họ đẩy vào vũng lầy Việt Nam. Jim Doyle đã bị đẩy tới chiến trường Việt Nam khi mới 18 tuổi, mặc dù may mắn sống sót trở về, nhưng đến giờ người cựu binh này vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh: “Chiến tranh là địa ngục. Nó tác động ghê gớm đến con người như một vết thương không thể hàn gắn” và “Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, chiến tranh không chỉ lấy cắp thời thanh niên của tôi mà còn đeo đuổi, ám ảnh suốt cuộc đời tôi”. Các nhà xã hội học Mỹ cũng xác nhận: Kể từ sau năm 1975 đến nay, năm nào cũng có những cựu binh Mỹ đã từng chiến đấu ở Việt Nam bị tinh thần bất ổn, trầm cảm rồi tự tử bằng những cách thức ghê rợn.

Khi Khmer Đỏ, đàn em được Trung Quốc chống lưng và chỉ đạo, xâm lược biên giới Việt Nam thì Quân đội Nhân dân Việt Nam đã phản công trả đũa vào tận thủ đô của địch và bứng đi nguồn gốc tội ác, mầm mống xâm lược.



Huyện Hà Khẩu thuộc tỉnh Vân Nam, TQ. Nhìn từ phía Việt Nam.

Cuối tháng 2 năm 1979, QĐNDVN đã tiếp nối chiến công Bắc phạt của Lý Thường Kiệt và những tấm gương phản công trả đũa và tiêu diệt những căn cứ nội địa mà giặc xâm lược dùng để tấn công nước ta trong cuộc tổng phản công biên giới Tây Nam chống Pol Pot. Quân ta đã đồng loạt phản công mạnh mẽ vào đất Tàu.

Trước khi quân đội Trung Quốc tấn công Việt Nam thì huyện Ninh Minh (tỉnh Quảng Tây, giáp tỉnh Lạng Sơn của VN), huyện Ma Lật Pha (tỉnh Vân Nam, giáp tỉnh Hà Giang của VN), huyện Hà Khẩu (tỉnh Vân Nam, giáp tỉnh Lào Cai của VN), huyện Đông Hưng (tỉnh Quảng Tây, giáp tỉnh Quảng Ninh của VN), thị xã Bằng Tường (tỉnh Quảng Tây, giáp tỉnh Lạng Sơn của VN) được địch dùng làm căn cứ hậu cần, dự trữ lương thực, nhưng trong những ngày cuối tháng 2 năm ấy những căn cứ hậu cần, những kho chứa lương thực của Trung Quốc đã bị Quân đội Nhân dân Việt Nam phản đòn tràn sang đánh thẳng vào các nơi ấy và phá hủy san bằng.

Đặc biệt huyện Ninh Minh (宁明县) và huyện Ma Lật Pha (Malipo - 麻栗坡县) là 2 nơi bị quân ta phản kích vào dữ dội nhất. Thông tin này còn được ghi nhận trong tài liệu "China's War With Vietnam, 1979: Issues, Decisions, and Implications" (Hoover Press xuất bản năm 1987) của giáo sư chính trị học Mỹ King C. Chen, chuyên môn về chính trị châu Á.


Thị xã Bằng Tường thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, giáp tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam

Đó chỉ là lần thứ hai trong chiến sử Việt Nam mà một quân đội người Việt đánh vào lãnh thổ chính thức của Trung Quốc. Lần thứ nhất là cuộc "tấn công để phòng thủ" của Lý Thường Kiệt. Danh tướng Lý Thường Kiệt và Tôn Đản tấn công trước vào đất Tống là để tiêu diệt kho hậu cần, lương thảo mà giặc Tống chuẩn bị để tiến đánh Đại Việt.

Quân đội Nhân dân Việt Nam trả đòn, phản công vào lãnh thổ Trung Quốc cũng với mục tiêu đó, đồng thời còn là để trả đũa và răn đe. Sự phản công vào Ninh Minh, Ma Lật Pha, Hà Khẩu, Đông Hưng, Bằng Tường của quân đội Việt Nam cuối tháng 2 đã góp phần không nhỏ vào quyết định lui quân toàn bộ của Trung Quốc vào ngày 5/3/1979. Mở đường cho một loạt tập kích 13 ngày đêm, đẩy lui hơn 50 vạn đại quân Trung Quốc về nước vào ngày 18/3/1979.

Thiếu Long


Để đọc chi tiết cụ thể hơn về cuộc chiến chống Trung Quốc năm 1979, xin mời đọc tại đây:

- Chiến tranh năm 1979 và cuộc đấu trí cân não giữa Trung Quốc - Việt Nam - Hoa Kỳ

Để tham khảo tất cả những ngày lễ, lễ hội Việt Nam, xin tham khảo tại đây:

- Các ngày lễ Việt Nam
- Lễ hội Việt Nam
[...]

Comments

BBT: Đây là 1 bài viết phổ biến rộng rãi trong các Blogs và diễn đàn nhằm vạch trần chân dung của những con người chống phá đất nước, những kẻ thù của dân tộc, những người chủ tâm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân và đi ngược lại với lợi ích của nhân dân. Mặc dù bài viết sử dụng ngôn ngữ khá mạnh mẽ, đanh thép, nhưng vẫn có tác dụng tham khảo.

Đây là bài lên án vô cùng đanh thép đã làm cho bọn ngụy, bọn phản động, những kẻ "rận chủ", "dâng chủ", phản chủ, những kẻ thờ Tây thờ Mỹ, những kẻ phản quốc, bán nước vô cùng tức tối, cay cú, lấy làm tủi nhục, cảm thấy nhục nhã, cho nên họ đã làm trò buồn cười mà bọn trẻ em năm sáu tuổi hay làm, đó là ăn cắp bài này, sửa lại thành chửi bới đất nước và dân tộc Việt Nam, rồi đem phát tán, theo phong cách "khỉ đột bắt chước rập theo con người". Những hành động này càng cho thấy cái ngu dốt, kém văn hóa của chúng nó, khi chúng nó bị bất lực không đủ khả năng phản biện, thuyết phục, không đủ khả năng viết nên một bài mới, bài khác, mà chỉ còn cách copy rồi xào nấu lại để tự thủ dâm tinh thần lẫn nhau, đầy bệnh hoạn.

Blog Việt Luận xin được đăng lại toàn bộ bài này để các bạn tham khảo.

———————————————————————————————–

Thế giới này hằng ngày từng xảy ra biết bao nhiêu điều kỳ quặc. Nhưng dù có kỳ quặc đến đâu rồi người ta cũng sẽ lý giải được nó.

Nhưng có điều kỳ quặc lạ lùng mà hơn 30 năm qua người ta không thể hiểu và lý giải được.

Điều kỳ quặc ấy nằm ở chính cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Trong cộng đồng tha hương này, nổi lên những phần tử cặn bã mà người ta đến nay người ta vẫn chưa biết đặt tên chính xác cho chúng là gì.

Chúng là người Việt Nam nhưng chúng không bao giờ muốn đất nước của chúng mạnh lên. Mong ước của chúng là quê hương chúng mãi mãi lầm than đói khổ để chúng còn lý do, còn danh nghĩa để mà đi chống Cộng.

Chúng luôn mong quân đội ngoại bang xâm lược, chiếm đóng đất nước chúng để lật đổ chính quyền mà chúng thù ghét, và cũng để chúng tham gia đánh ké. Nghe tin quê hương bị xâm lăng là lòng chúng như mở cờ, chúng vui như trẩy hội, vì có thêm 1 vụ để chửi VC. Chúng chỉ mong có ngày quân giặc chiến thắng để chúng theo đóm ăn tàn.

Chúng lồng lộn ngăn cản đồng hương của chúng mua hàng của chính đồng bào của chúng ở quê hương chúng làm ra bằng giọt mồ hôi của họ. Chúng tấn công đồng bào và những nghệ sĩ Việt chỉ vì họ muốn về thăm quê.
Chúng quyết liệt ngăn cản đồng hương của chúng gửi tiền về quê nhà giúp người thân ruột thịt với những phong trào “không gởi tiền về VN làm giàu cho VC”.

Chúng chống đối những nghệ sĩ từ quê hương chúng đến để phục vụ đồng bào mình ở xứ người.
Chúng điên tiết, cay cú, nổi khùng lên khi thấy đất nước của chúng ngày càng thịnh vượng, chúng như điên như cuồng khi các nước trên thế giới càng ngày càng kính trọng đất nước chúng.

Chúng nó tìm mọi cách phá hoại để đất nước chúng nó không vào đuợc WTO, nghĩa là chúng nó muốn dân nó suốt đời đói nghèo lạc hậu, không hội nhập được.

Chúng nó hô hào chống lại việc đất nước chúng nó được thế giới tín nhiệm vào Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Chúng mong đất nước chúng muôn đời nhược tiểu, vô danh tiểu tốt, không ai biết đến.

Nhưng chúng lại rất miệt mài chăm chỉ vạch lá tìm sâu, bới móc những khiếm khuyết của đất nước chúng để chửi bới, lăng mạ, nguyền rủa, gào rú điên loạn.

Ngay cả đồng hương chúng nó trên đất người này, nếu có ai ngợi ca sự phát triển của quê hương ngợi ca những điều tốt đẹp của quê hương chúng là chúng tìm cách bóp cổ bịt miệng, biểu tình chống phá.

Chúng đem chất nổ vào quê nhà của chúng, âm mưu đặt chất nổ khủng bố các lãnh sứ quán VN. Mưu đồ gây rối loạn, bất ổn tình hình xã hội của Tổ quốc chúng.

Chúng xuyên tạc tình hình quốc gia chúng, và nài nỉ, khóc lóc, mếu máo, xin xỏ với quan thầy để cô lập, cấm vận, tuyệt giao với nước của chúng, không còn quan hệ ngoại giao với nước của chúng.

Chúng tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu đất nước chúng, bôi đen bôi bẩn bôi nhọ đất nước chúng. Chúng kêu gào đòi đồng hương chúng không được về làm ăn ở đất nước của chúng. Không được về VN, không được về VN kinh doanh, đầu tư. Chúng bịa đặt ra những thông tin tiêu cực và thổi phồng lên những tiêu cực có sẵn, 1 nói làm 10, để tạo cảm giác sợ hãi lên đồng hương của chúng, làm cho họ sợ thất bại, nghi ngờ, mà bỏ dự tính về VN làm ăn.

Nhưng chúng nó lại hết đội lốt thầy tu, đội lốt tôn giáo rồi lại đội lốt dân chủ, đội lốt nhân quyền, đội lốt tự do. Chúng tự xưng là những “nhà bất đồng chính kiến”. Chúng tự phong cho chúng là những “nhà đấu tranh dân chủ”. Chúng mạo xưng, mạo danh dân chủ, tự nhận mình là “dân chủ”. Trong khi chính chúng nó mới là những kẻ phá hoại dân chủ, phản dân chủ, phi dân chủ, chống dân chủ, độc tài trong chính cộng đồng của chúng. Chúng mạo nhận là những nhân vật đang “đấu tranh nhân quyền”, là những “nhà dân chủ”, “nhà hoạt động dân chủ”, “hoạt động nhân quyền”. Chúng lợi dụng dân chủ, nấp bóng nhân quyền, nấp trong vỏ bọc và chiêu bài “tự do” để mà quậy phá đất nước. Chúng nấp dưới bình phong “dân chủ” để phá làng phá xóm. Chúng lạm dụng danh nghĩa “nhân quyền” để phá hoại đất nước, nhận tiền của nước ngoài, thông đồng với ngoại bang, toa rập với các thế lực bên ngoài, mưu đồ bất chính, dụng ý hèn hạ muốn phá hoại đất nước.
Người ta sẽ không bao giờ hiểu nổi tại sao chúng lại hành xử như thế, vì trên thế giới này không có sinh vật nào hành xử giống như chúng.

Có thể người ta sẽ nghĩ đến là chúng là bọn dở hơi, hay chúng nó điên, nhưng không, chúng không phải là những kẻ điên, chúng nó vẫn rất tỉnh táo, rất tinh ranh, rất gian manh, rất ba que xỏ lá. Chúng là những kẻ lừa đảo chuyên nghiệp, có vô số cách lừa gạt đồng hương để lấy tiền chống lại quê hương chúng. Chúng rất biết nịnh bợ những ai từng là kẻ thù của đất nước chúng để chúng bợ đỡ cúi lòn mà chống lại quê hương chúng. Chúng rất biết kích động, khích bác, dụ dỗ những người bất mãn trong nước để đi theo chúng chống lại quê hương của chúng, tự biến mình thành công cụ của chúng để chống lại quê cha đất tổ.

Người ta lại nghĩ thế thì chắc chúng không phải là người Việt Nam? Cũng không. Chúng vẫn mang trong nguời dòng máu Việt chúng vẫn chửi quê cha đất tổ của chúng bằng tiếng mẹ đẻ của mình.

Như thế đích thị chúng là tay sai của kẻ thù Việt Nam rồi? Cũng không nốt, dù đúng là chúng rất thèm, rất muốn, rất ao ước để được làm tay sai của ngoại bang, nhưng chẳng còn thằng thực dân đế quốc nào thèm nhận chúng làm tay sai nữa vì chúng vừa bất tài lại vừa bất nhân bất nghĩa. Cuộc đời chúng từng là những chuỗi ngày làm tay sai, làm Việt gian, với “truyền thống” và “thành tích” đánh thuê nhiều đời. Nhưng cái vai trò tay sai, nô lệ mà chúng từng xem là nghề kiếm sống cũng đã thất sủng từ lâu rồi.

Trong đầu chúng nó không hề có quê hương không hề có đồng bào và không hề có Tổ quốc. Tất cả chúng nó đã vứt bỏ từ ngày chúng qua đây. Chúng vinh danh cái “Tổ quốc VNCH” của chúng do chúng tưởng tượng ra, không hề hiện hữu và không hề thực tế.

Chỉ có một cái mà chúng không thể vứt bỏ đi đựợc là tiếng nói của chúng. Chúng không vứt bỏ đi không phải vì chúng yêu thương gì tiếng mẹ đẻ. Mà vì chúng không có khả năng, không đủ trình độ tiếng Anh để chửi được đồng bào và quê hương chúng bằng tiếng Anh, thế thôi. Qua đây đã hơn 30 năm rồi nhưng chúng rất dốt tiếng Anh. Chúng không có khả năng Anh văn để đọc báo Mỹ, nên suốt ngày phải kiếm báo lá cải tiếng Việt miễn phí mà đọc, và chúng đã tự nhồi sọ, tự tẩy não (brainwash) lẫn nhau qua những tờ báo lá cải miễn phí, chửi bới một chiều này.

Mọi người hãy giải thích đi? Có dân tộc nào trên thế giới có loại động vật nào quái đản như lũ này? Có sinh vật nào gọi là con người mà lại làm như vậy?

Một ngày kia khi xuất hiện trên đường phố một lũ sinh vật cầm cờ ba que điên cuồng hò hét, chửi thề bằng tiếng Anh và giơ cao những biểu ngữ “Freedom of Religion for Vietnam”, “Democracy for Vietnam”, “Human rights for Vietnam”, “Down the communist”, “No communist in Bolsa” v.v., thì người ta cũng không lấy làm ngạc nhiên là bởi đến ngày ấy bọn này đã vứt đi cái cuối cùng trong người là tiếng mẹ đẻ. Chúng đã vì quá căm thù Việt Nam mà đã hóa cuồng, lệch lạc về tâm lý, biến thái, bệnh hoạn về tinh thần.
Hơn ba mươi năm qua người ta vẫn chưa tìm ra cái tên đích thực để gọi “CHÚNG NÓ LÀ GIỐNG GÌ”. Lũ sinh vật chưa được đặt tên này đã tiến đến cái ngưỡng của bệnh điên cuồng mà người ta hay gọi là bệnh chống Cộng thời kỳ cuối. Trong mồm chúng chất đầy tiếng chửi rủa, chất đầy những ý tưởng cặn bã thối tha đê hèn nhất để sẵn sàng tuôn ra khi có dịp. Trong đầu óc chúng chứa đầy những ý nghĩ điên rồ, cuồng loạn, mà không ai có thể hiểu được.

Những người bị chúng nó chửi là ai? Chỉ là những người biết yêu quê hương của chúng, những người đã xả thân vì đồng bào chúng, những đã hy sinh xương máu cho dân tộc chúng, những người đã mang về hòa bình, độc lập, thống nhất, ổn định, tự do, dân chủ, nhân quyền, và phát triển cho đất nước chúng. Những người đã và đang góp sức đưa đất nước chúng đi lên.

Nếu muốn nhận diện chúng, muốn lôi đầu chúng ra, người ta chỉ cần ca ngợi quê hương của chúng, chỉ cần ca ngợi đồng bào chúng đang sống trong cảnh thanh bình. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ để chúng nổi khùng lên và phát bệnh cuồng. Đó mới là điều kỳ quặc, những nghịch lý mà chỉ có trong những con quái thú thích tự phong cho mình những danh hiệu tự sướng như “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh nhân quyền”, “chiến sĩ tự do”, “freedom fighter”, chủ tịch này lãnh tụ nọ.

Những kẻ chửi bới đất nước chúng, lập tức chúng xem ngay là bạn tâm giao, dù kẻ đó là ai đi nữa. Chúng không hề giấu giếm điều này, chúng hãnh diện đứng về phía những kẻ này. Hãy thử đi mà xem, hãy thử post lên đây vài lời chê bai đất nước, hãy thử cắt dán những bài báo nêu những mặt trái của xã hội VN, quê mẹ của chúng, ngay lập tức chúng sẽ hùa theo và vơ ngay làm bạn, làm “chiến hữu”. Diễn đàn này là một hình ảnh thu nhỏ để mọi người thấy rất rõ chúng là ai, và bản chất chúng là gì.

Khi có người “dám” ca ngợi quê hương chúng, có ai đứng về phía quê hương phê bình chúng, chúng lập tức nhảy xổ ra cả đàn rất hung hãn, nhưng không có gì khác, vẫn chỉ có những lời chửi bới hoặc những lời “tranh luận” trẻ con mà chúng đã tụng niệm thuộc lòng với nhau. Đó là bản chất của cuộc sống bầy đàn hoang dã xưa nay của chúng.

Chúng không thể cắn xé được ai chúng thừa biết điều này, nhưng chúng cũng làm được điều chúng mong đợi là gây ô nhiễm môi trường công cộng.

Lắm lúc chúng giả danh người lương thiện, ngụy quân tử, đạo đức giả, mặc vào chiếc áo người lương thiện, nhưng lại để chửi đổng quê hương chúng, chửi đổng những người lương thiện. Quá dễ để nhận diện ra chúng vì người lương thiện thật sự, người chân chính thì không ai làm điều này. Chỉ cần cái mùi phản động, phản quốc toát ra từ chúng thì người ta đã nhận ngay được chúng từ xa rồi.

Chúng không có gì cả ngoài những câu chửi đổng, cào mặt ăn vạ, hoặc những khẩu hiệu rẻ tiền, những luận điệu tuyên truyền bồi bút 3 xu mà mọi người hay gọi là “văn nô Vichócô”. Những lời lẽ chửi đổng, chửi loạn, kêu gào đã được lập trình sẵn trong đầu chúng lập tức tuôn ra như là một phản xạ tự nhiên khi nghe thấy những lời ca ngợi quê hương chúng, khen ngợi quê cha của chúng.

Chúng ta có thể dễ dàng thực nghiệm điều này giống như thí nghiệm của Ivan Pavlov đã thực nghiệm với loài chó vào thập niên 1890. Kết quả nó giống y như khuôn đúc. Không có lần nào là ngoại lệ cả. Thậm chí trong cộng đồng mạng có một số người có thú vui giải trí là hay đi tìm bọn này để “chọc chó sủa” cho vui.

Đặc điểm chung của bọn chúng vẫn không thay đổi: Mồm to gan nhỏ. Trên mạng thì chúng chửi bới chống phá rất hung hăng bọ xít, rất to mồm không ai bằng, nhưng ngoài đời gặp VC thứ thiệt thì bảo đảm không ai có thể chạy nhanh hơn chúng đâu, vì chúng nối tiếp “truyền thống” chạy nhanh của cha anh chúng năm 1975 mà. Đôi khi có một số người bịt mũi tránh chúng vì chúng có cái mồm rất to sặc mùi xú uế và vì họ không muốn dây với hủi. Nhưng chúng lại cứ tưởng là “mình đã chiến thắng trong tranh luận”.
[...]