• RSS
  • Facebook
  • Twitter
Showing posts with label Lịch sử. Show all posts
Showing posts with label Lịch sử. Show all posts
Comments

Sau khi xem bài viết "Làm báo về lịch sử, đến báo Chính phủ, VTV, VOV cũng sai!", bạn đọc Hau Doan có phản ánh với chúng tôi về một sự việc tương tự như sau:
"Hôm nay e tới bảo tàng Bến Nhà Rồng thì thấy bức ảnh này với phụ đề phong trào phản chiến. A gửi tới bác lều báo giúp e tìm hiểu lại. Hình như nó cũng giống dạng bức ảnh trong đoạn film mà leubao mới nhặt sạn."
Bức ảnh mà bạn Hau Doan nhắc đến như dưới đây.
Bức ảnh tại bảo tàng Bến Nhà Rồng chú thích: "Phong trào phản chiến của binh sĩ và nhân dân Mỹ"



Bức ảnh tại bảo tàng Bến Nhà Rồng chú thích: "Phong trào phản chiến của binh sĩ và nhân dân Mỹ" nhưng người xem chẳng hề cảm nhận được chút nào sự "phản chiến" trong tấm ảnh này. Dường như người chú thích cho tấm ảnh này chỉ căn cứ vào lá cờ Việt Nam trong tay những người lính Mỹ mà chẳng chú ý đến biểu hiện trên gương mặt, trang phục khi làm nhiệm vụ và cả những dấu hiệu "chiến thắng" (Victory) hình chữ V hợp bởi 2 ngón tay của họ.

Thực tế, việc nhân dân Mỹ và thế giới cũng như một bộ phận lính Mỹ phản đối chiến tranh Việt Nam là một trong những lý do dẫn đến chiến thắng ngày 30/04/1975 của quân dân ta. Nhưng chắc chắn hình ảnh về họ không giống như bức ảnh tại viện bảo tàng đã trưng ra.
Biểu tình chống chiến tranh Việt Nam tại Boston, Mỹ, 1970 với lá cờ nửa xanh, nửa đỏ của CHMNVN
Trong các phong trào phản chiến, người ta có thể giương cao những lá cờ của lực lượng được ủng hộ còn trong tấm ảnh mà bảo tàng đưa ra, những người lính đang "trưng", "khoe" lá cờ như một chiến tích. Trong một trận chiến, lá cờ biểu trưng cho sức mạnh của các bên và là "ngôi sao dẫn đường" cho những chiến sỹ theo sau. Khi lá cờ được cắm trên đỉnh căn cứ của đối phương cũng là biểu tượng cho sự chiến thắng hoàn toàn. Người chiến sỹ cầm cờ là người chiến sỹ dũng cảm và khi người này ngã xuống thì sẽ có người khác tiếp lấy lá cờ để tiến về phía trước. Do đó, chiếm được lá cờ của đối phương và trưng ra như một chiến lợi phẩm là cách mà quân đội các nước, nhất là phương Tây, thường sử dụng để "khoe" chiến công của mình.

Chúng ta có thể thấy "truyền thống" này đã có từ rất lâu rồi qua một số ảnh minh họa từ thời thế chiến thứ 2 dưới đây:
Lính Anh khoe lá cờ chiếm được của quân Đức
Lính Mỹ khoe chiến lợi phẩm trong trận Iwo Jima với Nhật Bản
Quay trở lại cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta, cũng có không ít hình ảnh lính Mỹ chụp với những cờ của quân dân ta cùng với kiểu cách trong tấm ảnh của bảo tàng, nhưng chẳng ai có thể nói những người lính đó đang "phản chiến" cả.
Lính thủy đánh bộ Mỹ với lá cờ (dường như) của Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, lấy từ nóc trụ sở tỉnh Thừa Thiên trong chiến dịch Mậu Thân, 1968
Lính trung đoàn 26, sư đoàn bộ binh số 1 của Mỹ khoe lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
Lính không quân Mỹ khoe lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cạnh chiếc trực thăng UH-1
Lính đánh thuê New Zealand thuộc đại đội Victor 4 cũng khoe cờ MTDTGPMNVN
Vẫn là lính đánh thuê New Zealand thuộc đại đội Victor 4 khoe cờ Đảng Cộng sản!

Đặc biệt, trong bức ảnh dưới đây, lực lượng "biệt hải" của VNCH và các cố vấn Mỹ cũng chụp ảnh cùng lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (hoặc Cộng hòa Miền Nam Việt Nam). Phải chăng họ cũng đang "phản chiến"?
Cũng qua bức hình này, ta thấy phục trang của họ giống hệt những người trong bức ảnh của bảo tàng.

Đội "biệt hải" của VNCH cùng các cố vấn Mỹ với lá cờ của MTDTGPMNVN. Trang phục rất giống với những người lính trong ảnh của bảo tàng.
Vậy những người trong bức ảnh của bảo tàng là ai và sự thực về bức ảnh đó là gì?

Theo tìm hiểu của tôi, những người này thuộc lực lượng UDT/SEAL, tức Đội phá hoại dưới nước (Underwater Demolition Team) của lực lượng đặc nhiệm hải quân Mỹ (SEAL) mà "quân nhục VNCH" gọi văn hoa là "biệt hải".
Cụ thể, họ là những thành viên của Đội "biệt hải" số 1 thuộc trung đội Alpha (SEAL team one, Alpha platoon), còn có biệt danh là "The Dirty Dozen", hoạt động tại khu vực Nhà Bè, Rừng Sác từ năm 1966.
Dưới đây là một số hình ảnh của lực lượng này tại Việt Nam.
SEAL Team One với "chiến lợi phẩm": cờ và một buồng chuối!
Trung đội Alpha chiếm được cờ và các vật dụng y tế của quân kháng chiến
Một "chiến công" khác của lực lượng Alpha?
SEAL Team 2 và một lá cờ MTDTGPMNVN tại Mỹ Tho năm 1967
Và cuối cùng, dưới đây là nguyên bản của tấm ảnh trong bảo tàng, chụp The Dirty Dozen của tác giả Donald P. "Chip" Maury, một thành viên của đội này.

Vậy mong bạn Hau Doan và bất cứ bạn nào đến bảo tàng nay hay các bảo tàng có ảnh tương tự, hãy góp ý với họ về việc này để kịp thời chỉnh sửa lại.
© Nguyễn Thanh Tùng
Thông báo: Sau khi bài viết này được chuyển đến những người có trách nhiệm để tìm hiểu lại, Lãnh đạo Bảo tàng Hồ Chí Minh, Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh đã có phản hồi như sau:
"Sau khi nhận được sự góp ý của mọi người về nội dung bức ảnh đang trưng bày tại Bảo tàng, chúng tôi đã kiểm tra và cho tháo gỡ bức ảnh trên khỏi đai trưng bày để điều chỉnh cho đúng và phù hợp. Bảo tàng Hồ Chí Minh - chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh xin chân thành cảm ơn sự góp ý kịp thời của mọi người. Chúng tôi sẽ rút kinh nghiệm và thận trọng hơn trong việc sử dụng nguồn tư liệu cho công tác trưng bày".

Trước đó, trang facebook "Mạng lưới Bảo tàng Việt Nam - Viet Nam Museum Network" đã có một số phản hồi trên trang của họ như sau:
- Bác Triệu Hiển có bình luận như sau:

Nếu quả thực đây là bức ảnh bị chú thích nhầm, thì là một điều đáng tiếc và cần phải gỡ xuống ngay.
Đối với các hình ảnh trưng bày trong bảo tàng cần phải biết được : ảnh đó chụp sự kiện gì? Ở đâu? bao giờ? những ai trong ảnh? thậm trí (nếu có thể) còn phải xác định tác giả của bức ảnh đó. Nếu trong hồ sơ ảnh tư liệu có đầy đủ các thông tin trên thì không bao giờ bị nhầm lẫn khi đưa ra trưng bày trong BT hoặc triển lãm.
Bức ảnh mà bạn Hau Doan nêu trong bài báo thì ngay cả chú thích cũng không được ghi là "nhân dân phản chiến",việc phản chiến chỉ có các binh sĩ thực hiện, còn nhân dân chỉ phản đối chiến tranh mà thôi.
Mong các BT, nhất là các BT loại hình lịch sử - xã hội thường sử dụng nhiều ảnh tư liệu trong trưng bày phải cẩn trọng khi chọn ảnh và viết etiket.
Chúc các bạn đồng nghiệp có nhiều niềm vui trong kỳ nghỉ Lễ Quốc khánh.

- Qua kiểm tra sơ bộ thì thông tin như phản ánh về bức ảnh là đúng, tức đây không phải là bức ảnh về binh lính Mỹ phản chiến, mà là ảnh chụp biệt đội SEAL (lực lượng thuộc Hải quân Mỹ) số 1 (biệt hiệu là the Dirty Dozen: Vietnam Style) đang trưng cờ Việt Nam như là chiến lợi phẩm. Một số thông tin trao đổi của thành viên lực lượng này có thể xem tại đây, trong đó có bức ảnh nói trên: http://www.sealtwo.org/photoalbum09.htm.
Trên trang này, ngay bên dưới bức ảnh có một mẫu báo cáo, trong đó có ghi chi tiết chiến dịch tấn công của nhóm này vào một ấp ở Sóc Trăng, giết chết 1 cán bộ Việt Cộng và phá hủy một chiếc ghe (sampan - có lẽ là chiếc vỏ lãi ở Nam Bộ).
Bức ảnh được cho là của Bảo tàng đang trưng bày hình như đã được cắt cúp và xóa đường cắt ngang giữa ảnh, so với ảnh gốc trên mạng.
BCN Mạng lưới sẽ liên lạc với bảo tàng để phản ánh để có sự điều chỉnh cần thiết.

Hoan nghênh sự nghiêm túc, cầu thị và kịp thời điều chỉnh sai sót của Mạng lưới Bảo tàng Việt Nam nói chung và Bảo tàng Hồ Chí Minh - chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng!
[...]

Categories:
Comments

Những ngày này cả nước đang nhộn nhịp đón mừng kỷ niệm 69 năm ngày Cách mạng tháng 8 và Quốc Khánh. Lẽ tất nhiên là các phương tiện truyền thông từ trung ương đến địa phương, từ chính thống đến báo chợ, báo vườn, báo lá cải,... cùng đua nhau đăng bài về sự kiện trọng đại này. Nhưng cũng từ đó chúng tôi phát hiện ra một sự thật đáng buồn là cách làm báo thiếu tư duy, thiếu hiểu biết,vô trách nhiệm dường như đã ngấm quá sâu vào một "bộ phận không nhỏ" những người làm báo Việt hiện nay. Và càng thất vọng hơn nữa khi tình trạng này đã bùng phát như dịch bệnh Ebola, không chừa một đơn vị truyền thông tin tức nào, kể cả ở "thượng tầng" như Báo điện tử Chính phủ (http://baodientu.chinhphu.vn), Đài tiếng nói Việt Nam (VOV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV).

Đó là chúng tôi đang nói về một tấm hình mà các báo đưa ra để nói về buổi mít-tinh tại nhà hát Hà Nội trong cuộc cách mạng tháng 8 với 3 đặc điểm mà bất cứ ai hiểu biết cơ bản về lịch sử Việt Nam đều có thể nhận ra là nó không thuộc về thời điểm 1945. Đó là bức hình sau:

Bức ảnh trên hiện nay được các báo chú thích theo ý là "mít-tinh ngày 19.8 trước Quảng trường Nhà hát Lớn", trong khi thể hiện rất rõ: lá cờ nửa xanh nửa đỏ (dù ảnh đen trắng) của Cộng hòa miền Nam Việt Nam; di ảnh của Hồ Chủ tịch và ngôi sao "gầy" trên quốc kỳ Việt Nam (thời điểm trước 1954 là "sao béo"). Có thể nói đây là sự mất căn bản về lịch sử của các "nhà báo". Hình ảnh này hiện tràn lan trên hầu hết các trang báo mạng, diễn đàn,.. trong các bài viết về Cách mạng tháng 8 (!). Dưới đây, tôi chỉ lấy ví dụ về một số trang đáng chê trách nhất trong việc này.

1. Báo điện tử Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (http://baodientu.chinhphu.vn/gallery/23/Nhung-buc-anh-ve-Cach-mang-thang-Tam-nam-1945-tai-Ha-Noi/album21.vgp)

2. Đài tiếng nói Việt Nam (http://vov.vn/chinh-tri/phat-huy-hao-khi-cua-cach-mang-thang-tam-346435.vov)
3. Báo Giáo dục Việt Nam (http://giaoduc.net.vn/Ban-doc/Chum-anh-Tong-khoi-nghia-gianh-chinh-quyen-thang-81945-tai-Ha-Noi-post82761.gd)
Thật trớ trêu là trong khi dư luận và chính những người làm giáo dục than phiền về việc "dốt sử" của thế hệ HSSV sau này nhưng một tờ báo của chính những người làm giáo dục lại "dốt sử" không hề kém!

***

Sự việc này làm tôi nhớ lại một sai sót còn đáng chê trách hơn nữa của VTV. Một sai lầm có thể nói là mang tính "đổi trắng thay đen". Đó là trong bộ phim tài liệu "Biển đông dậy sóng - tập 2: Lời thề đất nước" phát sóng trên VTV1 vào "giờ vàng" - 20h - ngày 02/07/2014 có sử dụng một hình ảnh tuyên truyền của ngụy quân Sài Gòn trong trận chiến Xuân Lộc (4/1975) để minh họa cho chiến thắng giải phóng Trường Sa của hải quân nhân dân Việt Nam.
Hình ảnh "ăn mừng chiến thắng" tại phút thứ 3:12 trong tập 2 phim tài liệu "Biển Đông dậy sóng"

Bức ảnh này thực chất là hình ảnh những người lính sư đoàn bộ binh 18 quân đội Sài Gòn "ăn mừng" với các "chiến lợi phẩm" khi đẩy lùi được quân giải phóng trong đợt tấn công đầu tiên vào phòng tuyến Xuân Lộc, tháng 04 năm 1975. Hình ảnh này vẫn được coi là "di sản chiến tích" của những kẻ một thời lầm đường lạc lối và nay lại được các báo Việt đem ra làm minh họa cho "chiến thắng giải phóng đất nước"!
Chỉ cần vào google tìm kiếm với từ khóa "Giải phóng Trường Sa" hay "Giải phóng miền Nam" là cho ra 1 đống liên kết đến hình ảnh này!

Hình ảnh "niềm vui ngày chiến thắng" trên trang tin Báo Mới.
Tấm ảnh này được đăng trên các trang web nước ngoài và các trang "truyền thống" của những người lính chế độ Sài Gòn đang tha hương như một "chiến tích" của quân đội VNCH trong trận chiến Xuân Lộc. Tuy nhiên, nhiều khả năng đây là một tấm ảnh được dàn dựng để tuyên truyền của chế độ Sài Gòn trong cơn hấp hối. Tại sao như vậy?
Bởi lẽ trên hầu hết các tấm ảnh về chiến dịch giải phóng miền Nam, chúng ta chỉ thấy các lá cờ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam (tiền thân là Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) chứ không có lá cờ đỏ sao vàng, quốc kỳ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bấy giờ và lá cờ của Đảng Cộng sản. Điều này không phải là ngẫu nhiên mà là một "nghiệp vụ chính trị". Ngay cả khi hải quân nhân dân Việt Nam giải phóng Trường Sa năm 1975, lá cờ được kéo lên trên các đảo là lá cờ nửa đỏ nửa xanh của cộng hòa miền Nam Việt Nam dù rằng thời điểm đó ai cũng biết CHMNVN làm gì có lực lượng hải quân.
Kéo cờ giải phóng ở đảo Sơn Ca thuộc quần đảo Trường Sa năm 1975.
Bức ảnh về trận chiến Xuân Lộc được sử dụng trong bộ phim tài liệu phát trên VTV được giới thiệu trên trang Wikipedia tiếng Anh là theo nguồn "archives of United States Joint U.S. Public Affairs Office (JUSPAO), Vietnam Documents and Research Notes Series".
Đây có lẽ là tấm ảnh gốc, với ghi chú "Những người lính quân đội VNCH đang khua những lá cờ cộng sản chiếm được sau khi họ thắng "hiệp một" tại Xuân Lộc.

Bức ảnh này là một "di ảnh chiến tích" của đám tàn quân sư đoàn bộ binh 18 chế độ Sài Gòn...

... và được đăng trên rất nhiều trang web ở hải ngoại của đám tàn quân này.
Với cách làm truyền thông "ăn xổi ở thì" của "người lớn" kiểu này thì trách sao phần lớn giới trẻ hiện nay lại ngu ngơ về truyền thống dân tộc, lịch sử đất nước đến vậy. Phải chăng đối với không ít những người làm báo bây giờ, lịch sử cũng chỉ là một trong những phương tiện để cho họ kiếm tiền và "làm màu" như các cô cậu xì-tin trong bức ảnh một thời "gây xôn xao dư luận" dưới đây?

Tuổi trẻ đất cảng Hải Phòng "làm màu" trên Mương 14 với tờ giấy "khai man" tuổi Hồ Chủ tịch sớm hơn đến 50 năm!
© Nguyễn Thanh Tùng
[...]

Categories: , ,
Comments

Nhật báo Tuổi trẻ từ ngày 18/4/2014 đăng liền bốn số bài “Thưở ban đầu của chữ Quốc ngữ”, kể kỳ công của nhà truyền đạo Ki-tô A-lịch-sơn Đắc-lộ (Alexandre de Rhode) sáng chế ra chữ Việt ký âm theo mẫu tự Latin còn gọi là chữ Quốc ngữ. Chuyện không có gì mới ngoài mục đích nhằm gợi ý hãy “làm cái gì đó” như dựng tượng ông Đắc Lộ ở một nơi nào để người Việt tỏ lòng ghi nhớ mãi công ơn của người đại diện cho mẫu quốc Phú-lang-sa và giáo hội Ki-tô đã khai hóa cho dân tộc này bằng một bảo bối diệu kỳ!
"Giấc mơ" về tượng Đắc Lộ đã có từ lâu nay...

Có mấy điều cần nói rõ:
Một là: Nhà báo viết: “Mãi gần đây nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương cho rằng Đắc-Lộ không phải là người có công đầu trong việc tạo tác chữ Quốc ngữ”. Sự thật thế nào? Mời bạn đọc tham khảo một đoạn hồi ký của nhà hoạt động văn hóa-xã hội Nguyễn Hữu Đang:
“Trước Cách mạng Tháng Tám, ở sau đền Bà Kiệu, xế cửa đền Ngọc Sơn, vẫn có một khoảng đất rộng độ ba trăm mét vuông, ở giữa dựng tấm bia đá ghi công tích Alexandre de Rhodes, một giáo sỹ Pháp sang truyền đạo ở nước ta vào những năm 1624-1645, được một dư luận mơ hồ coi là người đã sáng tạo ra chữ Quốc ngữ. Dư luận ấy càng hay được nhắc lại trong giáo hội và giáo dân như một niềm tự hào song song với niềm tự hào Giáo hoàng Grégoire đã đặt ra dương lịch! Lợi dụng cái nhầm lẫn của những người không hiểu biết về một sự kiện lịch sử, thực dân Pháp dựng đài kỷ niệm ông ta với dụng ý gây uy tín cho chủ nghĩa đế quốc Pháp, chứng minh cụ thể “công ơn” của nước Đại Pháp đã “khai hóa” dân tộc Việt Nam lạc hậu! Dĩ nhiên trong lễ khánh thành bia tưởng niệm phải có kẻ tung người hứng. Kẻ tung có nhiệt tình đã được chọn là giám mục địa phận Hà Nội. Kẻ hứng có thẩm quyền nhất phải là ông Nguyễn Văn Tố, nhà cổ học nổi tiếng, Hội trưởng Hội truyền bá Quốc ngữ đang được cả nước hoan nghênh. Bởi vậy Ban tổ chức mời Hội dự lễ khánh thành với yêu cầu nội dung gồm hai tiết mục:
1. Ông Nguyễn Văn Tố đọc một bài phát biểu chứng nhận giá trị khoa học và ý nghĩa lịch sử sự nghiệp của Alexandre de Rhodes, cả hai mặt đều đã được thổi phồng trong bài diễn văn đọc trước.
2. Học viên của Hội ở thủ đô, tiêu biểu cho phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ sẽ đến đông đủ, hoan hô và diễu hành.
Hội không có lý do gì chính đáng để từ chối. Ban trị sự và anh chị em trong các ban chuyên môn đều lo ngại Hội sẽ bị lợi dụng trắng trợn. Riêng ông Hội trưởng cứ ung dung nhận lời sau khi đã trấn an mọi người bằng một câu nói vui: “Các ngài cứ yên tâm, Hội trưởng ra ngoài không đến nỗi kém cỏi, khờ dại lắm đâu, sẽ biết múa võ không hở sườn. Xin hứa giữ toàn vẹn cả danh dự Hội lẫn danh dự cá nhân”.
Giữ ra sao? Ông dặn Ban dạy học chỉ dẫn độ năm sáu chục học viên nhỏ tuổi, đứng im lặng, hễ ông đọc xong bài phát biểu là tự động giải tán ra về. Một giáo viên sẽ đến phân trần với Ban tổ chức là học viên người lớn của Hội ban ngày bận đi làm, chỉ có một số ít học viên nhỏ này rỗi phần nào là đi dự được. Họ đứng lâu sốt ruột lại thiếu ý thức trật tự, khuôn phép nên tự động bỏ về, chúng tôi bực mình nhưng cũng đỡ lo vì nếu họ diễu hành, đi gần đài bia tưởng niệm và các quan khách mà có cử chỉ, ngôn ngữ thiếu lễ độ, tôn kính thì tai hại.
Còn bài phát biểu của ông Hội trưởng thì bằng những dẫn chứng cụ thể và biện luận chặt chẽ, ông chỉ ra rằng chính các giáo sỹ Tây-ban-nha (Spaint) và Bồ-đào-nha (Portugal) đã đến xứ này từ lâu trước Alexandre de Rhodes và họ mới là người đầu tiên dùng chữ cái Latin phiên âm tiếng Việt, sáng tạo hệ thống gần hoàn chỉnh chữ Quốc ngữ hiện ta đang dùng. Sau đó, Alexandre de Rhodes mới góp phần mình bằng những cố gắng qui tắc hóa và đem phổ biến hạn chế trong việc dịch kinh bổn và biên soạn tài liệu cho giáo hội. Ông ta đáng khen ở chỗ thừa kế các bậc tiền bối mà có bổ sung trong chi tiết. Những người nghe ông nói hoặc đọc bài phát biểu đăng trên một tờ báo Pháp ra ngày hôm sau đều thấy rõ ông đã vạch trần âm mưu xuyên tạc lịch sử để tuyên truyền lừa bịp của bọn thực dân”.
Ai cũng biết vào nửa đầu thế kỷ XX, trong giới văn nhân văn hóa nước nhà nổi danh tứ kiệt “Quỳnh-Vĩnh-Tố-Tốn”, trong đó vị Viện trưởng Viễn đông bác cổ – học giả Nguyễn Văn Tố là người cốt cách, tự tin, mềm dẻo, uyên bác mà khiêm tốn, khí tiết vững vàng và sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được bàu làm Trưởng Ban thường trực Quốc hội khóa đầu tiên của chính thể cộng hòa-dân chủ Việt Nam.

Hai là: Sự phát triển của đạo Ki-tô về phía Đông gắn liền với quá trình mở mang việc khai thác tài nguyên và thị trường giao lưu hàng hóa của chủ nghĩa tư bản phương tây. Giáo hoàng Alexander VI tự cho Ki-tô giáo cái quyền thống trị hoàn cầu, đã chia thế giới ra làm hai vùng ảnh hưởng: Toàn thể Mỹ châu (trừ Ba-tây=Brazil) là thuộc Tây-ban-nha (Spain=Espagne). Còn Bồ-đào-nha (Portugal) thì được xứ Ba-tây (Brazil) và tất cả đất đai nào chiếm được ở châu Á, châu Phi. Vua Pháp Francis I bất bình, phản ứng ra lời: “Ai có thể chỉ cho ta thấy di chúc của ông tổ Adam giao tất cả thế giới cho Bồ-đào-nha và Tây-ban-nha”? Cùng với sắc lệnh phân chia vùng ảnh hưởng kèm theo điều quy định: “Song song với việc chiếm cứ đất đai là bổn phận phải kết hợp các dân địa phương vào trong giáo hội Ki-tô”. Do đó, đi cùng với đoàn quân xâm lược là những linh mục (sách Missionaries). Bất kể sự diễn tiến như thế nào, kết quả đều giống nhau: “Những dân tộc Á châu mất đi hoặc một phần, hoặc toàn phần sự tự do của họ, bất cứ khi nào và ở nơi nào mà cái Thánh giá cùng cái mũ Tây phương xuất hiện” (Avro Mahattan – Chủ nghĩa đế quốc của Ki-tô giáo và sự tự do của thế giới). Giáo hội được tín đồ. Thực dân được thuộc địa. Ngay từ buổi đầu, hai chủ thể ấy cố kết chặt chẽ với nhau cùng tồn tại và bành trướng.

Alexandre de Rhodes (1593-1660), người Pháp, là giáo sỹ thừa sai của giáo đoàn hải ngoại Pháp sang mở mang nước Chúa ở phía Đông. Ông đến xứ này khoảng những năm 1620. Sau 20 năm truyền đạo, ông gửi về một bản phúc trình mô tả rất chính xác về tiềm năng thương mại, chính trị và chiến lược… La-mã và Ba-lê xem những hoạt động này như những bước khởi đầu không thể tách rời khỏi sự dẫn đến việc chiếm đóng về chính trị và quân sự trên các quốc gia này. Lúc đầu, dù ở đâu, các giáo sỹ đều được dân chúng cảm mến và nhà cầm quyền địa phương ưu ái. Nhưng sau đó, những việc làm của họ kích động dân chúng, gây bất an cho xã hội, bị dân chúng tẩy chay và giới cầm quyền không chứa chấp thậm chí phản ứng tới mức cực đoan quá khích. Cha Đắc-lộ không là ngoại lệ. Là bầy tôi của Chúa, giáo sỹ thừa sai De Rhodes vác cây thánh giá Thầy tới kiệt cùng trái đất nhưng vẫn không quên mình là con cháu của ông tổ Gaulois. Ông qua La mã xin Đức Giáo hoàng huỷ bỏ đặc ân Chúa cho Bồ-đào-nha đất Á Châu. Không được chấp nhận, ông về nước vận động giới giáo sỹ, thương nhân và Pháp hoàng Louis IV cung cấp những chiến sỹ đi chinh phục toàn cõi Đông phương giàu tiềm năng này. Vào thời điểm ấy, do nhiều hạn chế lịch sử, ý đồ của người con nước Pháp đã dâng mình cho Chúa ấy chưa nhận được sự hưởng ứng rộng rãi nhưng nó đã mở đường cho đế quốc Pháp xâm lược nước ta hơn 200 năm sau đó. Ông đúng là mẫu người cần cho nước Pháp như hoàng đế Napoléon I từng nói thẳng ra: “Áo nhà tu che chở và giúp họ che đậy được mục đích chính trị và thương mại. Họ chẳng mang một danh nghĩa chính thức nào mà lại tốn kém ít và được người bản xứ kính nể. Họ không thể làm chính quyền phải liên lụy hay bị sỉ nhục. Lòng nhiệt thành về tôn giáo khích lệ các tu sĩ làm việc và mạo hiểm hơn cả một viên chức dân sự nhiều”.
 
Bà con ta nghĩ sao từ chỗ Nhà nước bảo hộ chỉ dựng bia đá ghi công tích một công dân chính quốc vác cây thánh giá Thầy trong công vụ đi mở mang nước Chúa và giúp nước mẹ xâm chiếm thuộc địa thì những người vong quốc đổ biết bao máu xương hàng trăm năm mới phục sinh được Tổ quốc của mình, nay con cháu những người nô lệ lại bàn nhau bày chuyện tạc tượng ghi ơn?!

Ba là: Chữ viết đóng góp phần quyết định vào nền văn minh của một dân tộc bởi nó là điều kiện tiên quyết để xây dựng nền giáo dục quốc gia bảo tồn văn hiến. Vì thế các chính quyền ngoại bang thống trị luôn tìm cách huỷ diệt nền văn minh bản địa và quyết liệt đồng hoá người bản xứ. Chữ viết là đối tượng bị huỷ diệt trước tiên bởi nó phản ánh tư tưởng, tâm hồn của một dân tộc.
 
Gần đây một số ý kiến cho rằng người Việt đã có chữ viết riêng theo mẫu tự tượng thanh từ rất sớm gọi là chữ Việt cổ. Với những chứng lý mơ hồ chưa thuyết phục nên người ta cứ tin theo sách sử truyền rằng: “Sỹ Nhiếp đã mang chữ Hán về khai hoá cho dân tộc Nam man”. Thực ra “ngu dân” là chính sách nhất quán của chính quyền ngoại bang đô hộ mọi thời. Cần thiết chúng chỉ dạy cho người bản xứ ít chữ đủ dùng làm thư lại tay sai. Nhưng yêu cầu được mở mang trí tuệ là khát vọng của những người có học giác ngộ luôn có ý chí phục hồi tổ quốc, phục sinh dân tộc. Từ đấy tạo ra một lớp trí thức tài hoa uyên bác ngoài ý đồ của giới cầm quyền. Tất nhiên nền văn hóa Đại Hán không thể không có ảnh hưởng sâu sắc trong việc hình thành nhân cách và tư tưởng người Lạc Việt.
Tuy nhiên với khát vọng độc lập tự do thôi thúc, lớp nho sỹ tiến bộ bản xứ chế tác ra thứ chữ Hán-Nôm hợp với thổ âm của người Việt và chỉ qua mấy thế kỷ, chữ Nôm đã có những thành tựu rực rỡ, làm nên nền văn hoá Việt Nam trung cận đại với bản sắc riêng. Chính Toàn quyền Pasquier, đứng ở góc độ văn hóa đã thừa nhận: “Các tác phẩm văn học Việt Nam, dù đậm nét dân gian hay có giá trị đỉnh cao của Nho học là một kho tàng văn hóa độc đáo, phi thường” và khuyến cáo các đồng sự cực đoan: “Ta không nên phá hoại bất cứ thứ gì trong tòa lâu đài văn hóa cổ xưa này. Nếu ta làm mất đi trong quên lãng, thử hỏi đó có là trọng tội?”.

Sự ra đời của chữ Quốc ngữ là quá trình lâu dài khởi từ các linh mục người phương tây đồng thời là những nhà ngôn ngữ học giỏi giang, kế tục nhau dày công nghiên cứu, lại được sự hưởng ứng tận tình của nhiều tầng lớp người bản xứ đã sáng chế ra một dạng chữ đơn giản và dễ phổ cập là chữ Quốc ngữ ta dùng hiện nay. R.Jacques đề nghị: “Cần thiết phải đặt đúng vị trí việc làm của cá nhân Alexandre de Rhodes trong một công trình tập thể mà ông chỉ là một trong số nghệ nhân cư yếu, trong đó người Bồ-đào-nha và những người cạnh tranh ngang hàng Việt Nam của họ đã giữ vai trò hàng đầu”. Dù sao thì việc chuyển hóa hoàn tất một ngôn ngữ Á đông từ ký tự tượng hình sang ký tự tượng thanh trước hết để các nhà truyền giáo dễ học một ngôn ngữ mới, làm phương tiện tác nghiệp, dễ dàng thâm nhập với cộng đồng thổ dân, lâu dài hơn là phục vụ cho âm mưu thôn tính một xứ sở xa lạ.

Bốn là: Trên thế giới này, các dạng chữ viết đều theo hai qui tắc: Hoặc theo dòng tượng thanh như chữ Latin, chữ Slavơ. Hoặc theo dòng tượng hình như chữ Ai-cập, chữ Hán. Mỗi vùng miền có những đặc thù riêng về địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa và cách phát âm. Trên đường tiến sang phía Đông, buổi đầu các giáo sỹ phương tây đã tạo ra một dạng chữ Nhật mới (romaji) theo mẫu tự Latin. Trước sự phản ứng quyết liệt thậm chí là cực đoan quá khích của giới cầm quyền thời Mạc Cửu, dưới sức mạnh của Thần đạo (Shinto) lại được các “samurai” dẫn dắt, con chữ ấy bị đánh bật ra khỏi đất Phù Tang! Chữ Nhật truyền thống vẫn tồn tại cùng với nền tảng văn hóa Nhật để có một nước Nhật hiện nay ở “top” đầu thế giới. Trái lại khi tới Việt Nam đúng lúc chủ nghĩa phong kiến suy vi bạc nhược, cuộc Thập tự chinh mà các giáo sỹ thừa sai phương Tây đi tiên phong đã là những người có công đầu cho chủ nghĩa thực dân Pháp biến nước ta thành thuộc địa đồng thời với việc mở mang nước Chúa!
Nhìn sang các nước Á Đông, quốc gia nào chữ viết không bị đồng hóa thì nước Chúa khó được mở mang trong khi các lĩnh vực văn hóa, khoa học, xã hội vẫn bắt nhịp với đà tiến hóa chung của loài người.
 
Năm là: Khi đặt được nền móng vững chắc cho sự cai trị, thực dân Pháp thẳng tay bức tử chữ Hán-Nôm truyền thống! Sự chống trả của giới sỹ phu bản xứ không lại được trước áp lực của chính quyền thực dân nắm trong tay cả một guồng máy khổng lồ quân sự, chính trị, kinh tế, giáo dục, khoa hoc kỹ thuật, tổ chức xã hội… Giám mục Puiginier nói đặc giọng của một trùm thực dân: “Không đồng hóa chủng tộc được thì phải đồng hóa trước là ngôn ngữ và sau là văn hoá để lập nên một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông”. Ý đồ ấy lại được lớp người Việt vong bản tiêu biểu là Jean Baptiste Trương Vĩnh Ký ngoài sứ vụ bầy tôi của Chúa lại mang phẩm trật Đại quan Cơ mật viện Nam triều, ông ta còn là quan chức mẫn cán của Nhà nước bảo hộ Đại Pháp, đã không ngần ngại bày tỏ hết ruột gan ra trong thư gửi cho Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ để xin tiền ra sách: “Muốn chứng tỏ với qúy vị rằng trong 13 cuốn sách đã xuất bản, tôi chưa bao giờ đi lệch mục tiêu chính và trực tiếp là sự biến đổi và đồng hóa dân tộc An Nam.

Ý đồ hủy diệt một nền văn hóa lâu đời của một dân tộc ở phương Đông không dễ được thực hiện. Trước hết nó gặp sự bất hợp tác của người bản địa là lẽ đương nhiên. Chữ Quốc ngữ ra đời vào giữa thế kỷ XVII, hầu như chỉ lưu hành hạn hẹp trong giáo hội Ki-tô. Nửa sau thế kỷ XIX, khi người Pháp hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam, họ có ý định dùng chữ Quốc ngữ thay cho chữ Hán-Nôm thì ngay trong giới cầm quyền thuộc địa cũng có những phản ứng gay gắt. Với kinh nghiệm của một quan chức thực dân đồng thời cũng là nhà văn hóa, Toàn quyền Pasquier nhắc nhở đồng sự: “Hãy tìm cách thích nghi, hòa nhập, chứ không phải hủy hoại, sao cho trong một thế kỷ tới người Pháp sẽ không phải chuốc lấy những lời trách cứ nặng nề rằng: Dưới chế độ tập quyền nghiệt ngã, những bản sắc đặc thù của một đất nước xa xôi đã bị tàn phá”! Nhưng bản chất của chủ nghĩa thực dân chỉ cần sự chiếm đóng, khuất phục và lợi nhuận. Văn hoá nếu có, chỉ duy nhất một nền văn hóa chính thống mẫu quốc mà tinh hoa của nó là tinh thần “Tự do-Bình đẳng-Bác ái” không bao giờ được xuất khẩu sang thuộc địa.

Sáu là: Đến đầu thế kỷ XX, chính quyền thuộc địa lập một Ban cải tiến chữ Quốc ngữ gồm nhiều học giả người Pháp và người Việt. Chữ Quốc ngữ được cởi trói và các thể loại văn học mới lần lượt ra đời nhưng vẫn không nhận được sự hưởng ứng mặn mà cả trong giới nho sỹ và giới bình dân.
 
Phải đến khi nhân dân ta giành được quyền làm chủ vận mệnh quốc gia thì ý thức cần được khai thông trí tuệ mới trỗi dậy mạnh mẽ. Giữa lúc quốc gia nguy biến, Cụ Hồ – vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập vẫn sáng suốt đặt ra ba yêu cầu bức bách mang tính sống còn là: “Diệt giặc đói – Diệt giặc dốt – Diệt giặc ngoại xâm”! Giặc nào cũng làm cho mất nước. Chữ Quốc ngữ được mạnh dạn cải tiến trên cơ sở tiếng Việt là thứ tiếng thống nhất trong cả nước nên việc phổ cập rất nhanh. Từ sự khắc nghiệt của lịch sử đã luyện cho người Việt có biệt tài “trong cái khó ló ra cái khôn”, biến cái không thuận lợi thành ra thuận lợi. Chỉ trong một thời gian ngắn, những người trí thức tâm huyết vẫn giữ được truyền thống văn hóa cổ truyền và tiếp thu tinh hoa nền văn hóa mới Hy-La, quảng bá chữ Quốc ngữ để mau nâng cao dân trí. Các nhà văn hóa của nước Việt Nam mới đã chế ra cách phát âm các từ theo đúng âm ngữ người Việt: a, bờ (b), cờ (c), dờ (d), đờ (đ), gờ (g), nhờ (nh), ngờ (ng), khờ (kh), thờ (th)… mà những ông tây thứ thiệt rất khó học nhưng những người bình dân Việt Nam cảm thấy rất dễ nhận diện, ghép vần, nhập tâm. Cũng nhờ đấy mà chữ Quốc ngữ được phổ cập nhanh chóng. Sau khi đuổi được giặc Pháp, năm 1960, “Hội nghị cải tiến chữ Quốc ngữ” lại được tổ chức tại Hà Nội. Chữ Quốc ngữ được nâng cấp, phát triển toàn diện, đáp ứng được trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ sinh hoạt, tình cảm, trí tuệ, tâm linh tới các bộ môn khoa học xã hội và tự nhiên hiện đại rất phức tạp, là ngôn ngữ chính thống giảng dạy trong các trường từ mầm non đến đại học. Cụ Hồ và những lãnh tụ cách mạng đồng thời là những nhà văn hóa lớn rất quan tâm và nêu gương trong việc làm trong sáng tiếng Việt ta cả trong cách nói và cách viết.

Vĩ thanh:
Người ta ngoa ngôn rằng: “Khi cho Việt Nam các mẫu tự Latin, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến ba thế kỷ”? Nhưng có ai nghĩ rằng sự mất đi ngôn ngữ Hán-Nôm không khỏi kéo theo hệ quả là những bản sắc đặc thù của một dân tộc có truyền thống văn hiến lâu đời đã bị tàn phá?
Một nhà giáo dục học người Pháp có lương tâm ở Việt Nam – ông G.Dumoutier, từng trăn trở: “Nếu những đứa trẻ An Nam xuất thân từ các trường học của ta (Pháp), mà không biết đọc và viết chữ Hán-Nôm thông dụng, thì chúng sẽ trở thành người ngoại quốc trên chính đất nước của chúng”! Đó là lời cảnh báo nghiêm khắc mà đến bây giờ dường như nó đang lộ diện!

Trải hàng trăm năm phát triển đại trà, xem ra đã có ai dùng chữ Quốc ngữ vượt qua các bậc tiền nhân với chữ Hán-Nôm mà đạt tới đỉnh cao tư duy và mỹ cảm như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Công Trứ, Bà Huyện Thanh quan, Hồ Xuân Hương…? Nhà Quốc ngữ tiên phong Nguyễn Văn Vĩnh từng nói: “Kể những sách của những bậc tài Nôm nước Nam để lại mà làm nền cho quốc văn thì thực hiếm, nhưng tuy hiếm mà thực là qúy, thực là hay. Như văn Kim-Vân-Kiều mà đem vào kho tàng văn chương thế giới kể cũng xứng, chớ không đến nỗi để người An Nam mình phải hổ thẹn rằng nước không có văn”.

Ngay từ buổi đầu một nhà văn hóa Pháp có lời cảnh báo như là tiên tri: “Sự hủy bỏ nền giáo dục Hán-Nôm đồng nghĩa với sự hủy bỏ về giáo huấn đạo lý mà chúng ta sẽ không có gì để thay thế vào bộ môn đạo đức đã bị tiêu diệt này… Đối với học sinh An Nam, mỗi chữ viết (Hán-Nôm) đều chứa đựng ý nghĩa sâu rộng, khi đọc hoặc viết, chúng tiếp nhận được một cảm xúc mạnh. Còn sách vở của ta, họ tiếp nhận với một tâm trạng khác hẳn. Đó là những tập tục của một xã hội khác biệt với họ, các thầy giáo cũng khác ông thầy đồ – người mà họ coi có thể thay thế cha mẹ của họ”. Bây giờ, trải hàng trăm năm chữ Quốc ngữ phát triển đại trà, trong cộng đồng nảy ra những con người chẳng giống ai và chính những con người ấy có những hành xử kỳ quái từ trong gia đình tới ngoài xã hội. Và trong lĩnh vực văn chương cũng từ những con người ấy nảy sinh ra những loại truyện, thơ cách tân, hiện đại, hậu hiện đại để nảy nòi ra những “Bóng đè” và đám nặc nô “Mở miệng” được Nhã Thuyên và Nguyễn Thị Bình cùng đủ hàng chức sắc thầy bà đang kẻ tung người hứng! Con chữ vấy bẩn lên văn chương hay là văn chương làm nhơ nhuốc những con chữ? Dù sao thì với ai lòng những thẹn với lòng!

Ngày nay khi phân tích lý giải về các vấn đề xã hội người ta thường đưa ra những yếu tố kinh tế, chính trị để giải thích sự biến động của tình cảm, đạo đức, nhân tâm… chưa hẳn đã là đầy đủ!

Tuy nhiên, thời nay chỉ người điên mới đòi bỏ đi chữ Quốc ngữ. Nhưng nếu xếp xó lại chữ Hán-Nôm coi như đồ bỏ, khác chi để mất một báu vật gia truyền?! Giống như con rắn thần mù không biết trên đầu mình có viên ngọc quý. “Tổ quốc ta là rắn khác gì đâu!” (R.Tagor). Tại sao sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong chương trình cải cách giáo dục của nhà nước Việt Nam độc lập, học sinh hệ Đệ nhị cấp (tương đương Trung học cơ sở hiện nay) mỗi tuần vẫn được học vài giờ chữ Hán-Nôm. Bây giờ ta luôn nói coi trọng bản sắc văn hóa dân tộc mà trong chương trình giáo dục từ Cấp Hai, các nhà cải cách không thể mạnh dạn bỏ đi những tiết học vô bổ hoặc cắt xén những chương trình lê thê đặng thêm vào vài tiết học chữ Hán-Nôm cho lớp trẻ? Đó chẳng phải là một cách làm mạo hiểm hao công tốn của như đã từng diễn ra từ các chương trình thử nghiệm cải cách giáo dục bấy lâu nay. Ít ra thì cũng tránh được cái họa viết những câu văn vô nghĩa, ngớ ngẩn, bất thành cú… của không ít học sinh cuối cấp phổ thông, là bước chuẩn bị cho lớp cháu con tiếp cận với nguồn cội văn hóa dân tộc. Bởi nó rất hợp lẽ tự nhiên giống như “cây thuốc phương Nam trị người nước Nam” mà cha ông ta đã làm và rất thành công.


Thành phố HỒ CHÍ MINH ngày 30/4/2014
Nguyễn Văn Thịnh
(tác giả riêng gửi Doi-Mat.vn)
[...]

Categories: ,
Comments

1Anh biết hai người anh, một người gọi là anh Cả vì sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, một người gọi là anh Hai vì sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn. Năm 74, anh Hai tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt, ngày tốt nghiệp là ngày nổ súng ở Hoàng Sa. Năm 74, anh Cả tốt nghiệp lớp 10 và tình nguyện nhập ngũ. Năm 75, anh Cả, áo Tô Châu, mũ cối, dép râu, ngồi xe Giải phóng chạy sau xe tăng kéo vào Đà Nẵng. Năm 75, hạm tàu xuôi Nam, anh Hai đứng nhìn những xà lan đầy người tị nạn bị cắt dây bỏ lại giữa trùng dương sóng vỗ.

Ngày 25, anh Hai rời Vũng Tàu về Sài Gòn tìm vợ con. Ngày 25, anh Cả biên vài chữ gửi miền Bắc - "bọn con sắp tới Sài Gòn".

Sáng 28, anh Hai trình diện ở Bộ Tư lệnh Hải quân. Viên Trung tá già lắc đầu bảo anh Hai "Long Thành đã bị cộng quân chiếm, trung úy chẳng thể đi bằng đường bộ." Anh Hai trả lời "nhưng tôi phải về với hạm đội". Chiều 28 anh xuống tàu tuần giang nhằm hướng Vũng Tàu.


Sáng 28, người đại đội trưởng, dân tập kết lôi anh Cả khỏi chiếc T-54 đi đầu: "Ngồi phía sau, xe đi đầu thường bao giờ cũng bị bắn trúng". Chiều 28, một quả M72 bắn trúng tháp pháo chiếc tăng đi giữa. Anh Cả bay một vòng và rơi xuống cách chiếc tăng 5 mét. Khi mở mắt, anh Cả thấy người đại đội trưởng già nằm nghiêng không nhắm mắt.

Ngày 29, anh Hai nhận lệnh của Bộ tư lệnh Hải quân "hễ thấy A37 bay qua, không kể phi đoàn nào cũng bắn!". Ngày 29, anh Cả tháo cây B41 khỏi tay người bạn. Xe cháy rực đường, bộ đội ngổn ngang bên vệ cỏ. Người chính trị viên gào to lạc giọng "để lại cho đồng bào, để lại cho đồng bào, về Sài gòn thẳng tiến".

Trưa ngày 30, người hoa tiêu lay anh Hai dậy "đầu hàng rồi thày ơi!" anh Hai ngước nhìn lên trời xanh hun hút. Ngoài khơi thuyền đan san sát, hạm đội đang về Nam. Anh Hai xả nước cho chìm tàu tuần giang, theo hạm đội về tập kết Côn Đảo.

Trưa ngày 30, anh Cả lặng đi khi thấy dinh Độc Lập, 18 tuổi, anh đã đi chặng cuối con đường dài 30 năm của dân tộc.

Ngày mồng 1, anh Cả nheo mắt, đứng ngắm nhìn nắng nhảy múa trên ngọn cây Sở thú, cây AK vẫn sẵn sàng bên hông. Ba mươi năm sau giữa Sài Gòn, anh Cả bảo "thời chiến tranh tao bắn nhiều mà chẳng trúng được ai, bắn con người khó lắm."

Chiều ngày 1, anh Hai nhìn những con tàu nổi khói về phía Thái Lan. Không còn hạm đội, không còn Hải quân, chỉ duy nhất hạm tàu anh quay trở lại. Ba mươi năm sau giữa Sài Gòn, anh chỉ con gái bảo "ngày đó anh quay về là vì con bé" và anh thêm "nhưng đến giờ nghĩ lại việc đã qua, anh vẫn không thấy tiếc".

★★★

2Anh thường được mọi người gọi là Thày Hai. Anh cao lêu đêu như một cái sào nên đôi khi bạn bè cũng gọi anh là ông "Sào". Thày Hai nhập ngũ cuối năm 1974. Ngày chưa nhập ngũ, thày Hai học ở ngôi trường cấp ba cổ kính ven Hồ Tây. Trường có một truyền thống lâu đời và đã đào tạo một số các nhà lãnh đạo chủ chốt của cách mạng. Tuy nhiên, thày Hai là dân siêu quậy. Thứ hai nào tên thày Hai cũng được nêu lên trước toàn trường vì thành tích quậy phá của mình. Năm 1974, thày Hai nhập ngũ dù chưa đủ tuổi. Ba thày Hai, quá mệt vì cái sự quậy của thày, khi nghe tin thày nhập ngũ đã nói "thôi thà mày hy sinh cho Tổ quốc còn hơn!".

Đầu năm 75, thày Hai vượt Trường Sơn vào Nam và được phiên chế vào lực lượng an ninh Miền. Thày di chuyển theo bộ tư lệnh Miền từ Tây Ninh về tới Củ Chi theo nhịp tiến của các cánh quân giải phóng Sài Gòn. Ngày 29/4/1975, đại đội của thày Hai được tập hợp lại. Người chính trị viên phổ biến cho mọi người rằng Sài Gòn sắp giải phóng, đại đội sẽ thọc sâu vào Sài Gòn để làm một nhiệm vụ đặc biệt - giải cứu ông Nguyễn Tài - người tù nhân trong căn phòng trắng. Mọi người được phổ biến rằng họ sẽ vượt trước các đơn vị quân đội, thọc sâu vào trung tâm Sài Gòn. Trên đường đi, họ sẽ phải bỏ qua mọi ổ kháng cự để đến được nơi giam giữ ông Nguyễn Tài - vị trí đã được tình báo xác định. Đại đội sẽ phải chốt lại đó để bảo vệ ông Tài tới khi viện binh tới hoặc mở đường máu để rút về Củ Chi nếu tình hình chiến sự giằng dai. Thày Hai cao to nên được giao giữ một cây trung liên của Liên Xô mới coong.

Đêm 29 mọi người không ngủ. Mờ sáng 30/4 cả đại đội ra ven rừng đợi xe của Miền tới. Thày Hai ôm cây trung liên và bốn trăm viên đạn đeo xệ hông. Tất cả ngồi yên nhìn đăm đăm ra bìa rừng và lắng nghe tiếng pháo tầm xa vọng từ Sài Gòn về. Mấy người bạn là lính cựu ghé tai thày Hai: "Hai ơi, mày còn gì ăn trong ba lô thì mang ra hết đi. Mày giữ trung liên thì chắc chắn phải chốt hậu. Giữ thức ăn mà làm gì!" Thày Hai tới lúc đó mới hiểu tại sao những người lính cựu thường tránh nhiệm vụ giữ cây trung liên của đại đội. Mười bảy tuổi, ôm cây trung liên bên bìa rừng Củ Chi trong bảng lảng sương sớm, thày Hai chợt nhớ ánh nắng bên Hồ Tây những ngày thơ quậy phá.

Chờ mãi, chờ mãi, xe của Miền không tới. Tới trưa, một người sỹ quan chạy từ trong rừng tới reo to "đầu hàng rồi, Dương Văn Minh đầu hàng rồi, đang đọc trên đài đó!" Ngày hôm sau, thày Hai vào nội đô, cây trung liên vẫn đeo lệch bên vai, mười bảy tuổi và nhiều tháng năm còn ở phía trước.

★★★

3Cậu Út là nông dân. Ngày ngày cậu dẫn trâu ra đồng nhưng cậu lái được cả xe tải lẫn công nông. Thời chiến tranh, cậu lái tăng T-54 và mất một mắt tại Sài Gòn vào ngày 30/4.

Cậu nhập ngũ năm 1973 và vì to khỏe nên được bổ sung về bộ đội tăng thiết giáp. “Hồi 72, binh chủng thiệt hại nặng ở Quảng Trị. Thế nên đơn bọn tao chỉ có cán bộ khung là cựu binh, còn lại đều là lính mới hết” cậu kể. – “hai năm liền, cán bộ của bọn tao, các ông ấy đã thấy tổn thất năm 72 thế nào, nên rèn bọn tao ra thành bã.” Đầu năm 1975, cậu Út vượt Trường Sơn vào Sài Gòn.

“Bọn tao nhận xe mới ở Kép rồi ngồi tàu vào tới tận Vinh. Từ đó bọn tao chạy lên đường Trường Sơn. Hồi trước thì thế nào không biết chứ đầu năm 75, lúc bọn tao vào đường đã tốt lắm. Xe chạy ban ngày không cần ngụy trang, đi tới binh trạm nào có bồn tiếp xăng tới đó. Suốt từ Tây Nguyên xuống tới Tây Bắc Sài Gòn, bọn tao đánh đâu thắng đó. Nhiều nơi, chỉ thấy bóng xe tăng là quân ngụy bỏ chạy. Suốt cả đường hành quân từ Bắc vào tới ngoại ô Sài Gòn, bọn tao bị mất có mỗi một người vì nó gãy chân khi trượt từ tháp pháo xuống. Thế nhưng ngày 30/4, đại đội bọn tao mất một nửa số xe, ngay cửa ngõ Sài Gòn”.
Ngày 30/4, ba chiếc xe của đại đội cậu bị bắn cháy gần Nhà Thờ Ba Chuông. Những người bộ binh lôi cậu ra khỏi chiếc xe tăng rực cháy. Lúc đó cậu không nhìn thấy gì cả vì máu tràn khắp mặt. Sau này, bác sỹ nói là mắt trái của cậu bị thương nặng quá không thể cứu được. Tôi nói với cậu rằng ảnh của ba chiếc xe tăng cháy của đại đội cậu có thể tìm thấy trên mạng. Cậu tròn mắt khi tôi cho cậu thấy hình ảnh những hình ảnh đó. Tôi nhận xét rằng ba chiếc xe bị bắn cháy rất gần nhau, và khi vào thành phố, xe tăng không thể đi hàng dọc như thế. Tôi dịch cho cậu hồi ký của tướng Chuikov, vị chỉ huy của Stalingrad và cũng là người anh hùng công phá Berline. Trong hồi ký của người được mệnh danh là chuyên gia về chiến đấu trong thành thị này, ông nói rằng khi tiến vào Berline, các xe tăng Xô Viết áp dụng một chiến thuật là cho xe tăng chạy hai bên lề phố, với bộ binh tỏa ra hai bên và phía trước để tạo ra một hàng rào bảo vệ xe tăng khỏi lính chống tăng của kẻ thù. Mỗi xe tăng sẽ bắn trùm lên bất kỳ mục tiêu nào ở phía hè đối diện. Bằng cách đó, những người lính Xô Viết đã mang xe tăng tới tận cổng Brandenburg. Nghe những điều đó, cậu Út thở dài “giá ngày đó bọn tao có internet. Lũ chúng tao suốt 2 năm toàn được huấn luyện cường tập cứ điểm và đánh thọc sâu. Cán bộ chúng tao cũng chẳng có ai sinh ra ở thành phố. Hồi đó, chẳng ai nghĩ là miền Nam giải phóng nhanh đến thế nên cũng chẳng được học chiến đấu trong thành phố thế nào.” Cậu ngừng một lúc, nhìn xa xăm “mà thực ra, lúc đó bọn tao chạy sát thế, phần vì chủ quan nghĩ là chúng nó đã chạy hết, phần vì sợ lạc trong thành phố. Nói ra thì xấu hổ, nhưng đúng là chúng tao ngồi trên xe tăng thế nhưng mà lại sợ lạc.” Cậu chỉ vào bức ảnh và nói “in cho cậu cái này, ba mươi năm rồi tao không thấy lại cái xe của mình. Thấy cái này, tự nhiên tao nhớ xe tao quá”.

Đã hơn 35 năm kể từ ngày giải phóng, cậu tôi chưa từng trở lại Sài Gòn.

★★★

4Tôi gọi ông đơn giản là Trung tá. Trung tá có một quán cơm Tàu. Lần đầu tôi gặp Trung tá là khi tôi hết sạch số mì gói mang theo và quyết định lần đầu tiên bước chân vào một quán ăn ở Mỹ. Lần đầu tiên ở nước ngoài, một mình trong một khu campus hoang vắng vì sinh viên nghỉ hè hết. Chiều hôm đó, trời đổ mưa, mưa trên Tucson, mưa trên hoang mạc. Tôi bước vào quán và order thứ rẻ nhất có thể - cơm rang. Trong túi tôi lúc đó có $200 mà học bổng Fulbright cấp để đi đường – tôi sẽ phải sống với số tiền đó tới khi có học bổng tháng đầu tiên, ngoài số tiền đó ra, cá nhân tôi không còn tiền nào khác.

Trung tá nghe tôi order rồi quay vào. Trời mưa, một mình tôi trong quán. Ngày đó không có iPad, không có smartphone để đọc chuyện khi rỗi. Tôi lục tung túi của mình và chỉ tìm thấy tờ giấy duy nhất có chữ là tờ 500 đồng. Tôi giết thời giờ bằng việc đếm các hoạ tiết trên đồng tiền. Trung tá bưng cơm ra, nhìn đồng tiền tôi cầm trên tay và hỏi bằng tiếng Việt “con mới từ bển qua?” Trời mưa, quán vắng, Trung tá ngồi xuống nói chuyện bâng quơ quê ở đâu, sang đây học gì với tôi. Thái độ Trung tá ân cần nhưng hơi lạnh. Sau này, tôi mới biết rằng lúc đó Trung tá lạnh lùng vì nghĩ tôi là con quan lớn bên Việt Nam nên mới có tiền qua học luật. Sau này, vẫn từng đó tiền nhưng tôi phát hiện ra đồ ăn của mình thường nhiều hơn rõ rệt, Trung tá không nói nhưng thương sinh viên nghèo.

Có lần gần ngày 30/4, tôi hỏi Trung tá “hồi 75 trung tá chạy ra sao?” (Trung tá luôn thích mọi người gọi ông theo chức vụ đó). Trung tá trả lời chầm chậm, ngắt đoạn, thỉnh thoảng lại như chìm vào ký ức. Nói một cách ngắn gọn là khi cất cánh, từ trên cao, Trung tá nhìn thấy hàng đoàn xe tăng T-54 bật đèn pha trên xa lộ tiến vào thành phố. Lúc đó là sớm ngày 30/4. Tôi nói rằng cậu Út tôi lái một trong những chiếc xe tăng tiến về hướng sân bay Tân Sân Nhất lúc đó. Trung tá thở dài “lúc đó trong kho còn đầy hoả tiễn chống tăng, nếu lắp vô mà bắn chắc cháy nhiều lắm. Nhưng tụi qua cũng ngán hoả tiễn vác vai của Cộng quân, nên chẳng ai ra đánh cả. Cũng may thế nên qua với cậu của con mới còn sống tới giờ.” Tôi nói là cậu tôi vẫn sống nhưng xe của cậu và hai xe khác bị bắng cháy vào sáng 30/4. Trung tá tặc lưỡi “chiến tranh mà”. Trung tá kể, sau khi đẩy chiếc UH-1 rơi khỏi tàu sân bay, Trung tá đứng nhìn chiếc mõm vẽ nanh cá mập chìm sâu xuống nước biển và nhận thấy một quãng đời tung hoành đã chấm dứt. Vì thạo tiếng Anh nên ngay khi đến Mỹ Trung tá được được một tổ chức từ thiện giới thiệu cho một công việc trông nom tiệm giặt ủi. Trung tá gặp người chủ, cũng là một cựu binh Việt Nam. Người chủ Mỹ nói “tao chỉ là trung sĩ bộ binh khi ở Việt Nam, còn mày là trung tá phi công, mày có thấy vấn đề gì khi làm cho tao không?” Trung tá trả lời rất hăng hái “tao bắt đầu cuộc sống mới rồi, trung tá là thời ở bên đó, tao sẽ làm tốt công việc này.” Trung tá kể “thế nhưng đêm đó, qua nằm trong kho chứa đồ của tiệm vì lúc đó chưa có chỗ mướn để ở, nằm một mình lạnh lẽo và nghĩ tới vợ con đang ở Việt Nam, qua khóc như trẻ con”. Giờ các con của Trung tá đã lớn cả, đã làm kỹ sư, dược sỹ ở đâu đó bên Texas, tiệm chỉ còn Trung tá và vợ trông nom. 28 năm kể từ ngày rời Việt Nam, Trung tá vẫn chưa một lần về thăm quê. “Qua nhớ Đà lạt lắm, nhưng sợ Cộng Sản chẳng dám về!” Tôi cười và nói là tôi vẫn đang là đoàn viên thanh niên cộng sản. Trung tá lắc đầu mệt mỏi “chuyện chánh trị mệt lắm, con ở lại đây đi, qua mối cho con bé họ hàng bên bà xã, nó có tiệm nail đủ nuôi con học làm luật sư. Con về bên đó không đủ gạo mà ăn đâu!” (đó là năm 2003, nhưng Trung tá không biết xài internet, mọi điều Trung tá đọc là mấy tờ báo địa phương). Tôi cứ cười và không bao giờ tranh cãi với Trung tá. Ngày tôi về nước, Trung tá đưa cho tôi mẩu địa chỉ nói “về bên đó mà đói quá cứ viết cho qua, nếu con sang lại đây được, qua kiếm đứa khác cho mà làm vợ!” Tôi tặng Trung tá tờ 500 đồng mà tôi đã cầm ngày đầu gặp mặt. Trung tá cầm đồng tiền và cất cẩn thận trong ví. Trung tá biết tôi tặng Trung tá đồng tiền không phải vì giá trị của nó mà vì hình ảnh mà nó mang theo.

Ngày tôi rời Tucson, khi máy bay cất cánh, tôi nhìn thấy bầu trời đêm đang ửng hồng nắng sớm. Trên xa lộ, từng đoàn xe đang bật đèn chạy. Bỏ lại nước Mỹ sau lưng, tự nhiên tôi thấy cảnh đó giống cảnh Trung tá đã nhìn khi ông từ trên máy bay ngoảnh lại Sài Gòn lần cuối với từng đoàn xe tăng đang bật đèn tiến vào thành phố. Tuy nhiên có một điều khác, lúc đó, tôi nói với chính mình “I’am going home!”
© Thái Bảo Anh
[...]

Categories: ,
Comments

"Nếu không có Cộng sản thì không có chiến tranh hoặc nếu không có ngày 30-4 thì Sài Gòn giờ giàu hơn cả Hàn Quốc". Đó là câu nói cửa miệng của những thành phần chống cộng cực đoan ớ hải ngoại và một số "nhân sỹ trí thức" trong nước mà 40 năm nay họ vẫn hay lặp lại điệp khúc đó mỗi dịp tháng 30-4 về .

Muốn hiểu biết về vấn đề này chúng ta hãy ngược lại bánh xe lịch sử một chút, Pháp nổ súng xâm lược nước ta đặt nền cai trị lên toàn bộ đất nước, nhà Nguyễn đầu hàng từng bước rồi dâng nước cho Pháp. Các cuộc khởi nghĩa, các phong trào yêu nước của nhân dân ta chống thực dân Pháp diễn ra liên tục và sôi nổi nhưng đều không mang lại kết quả. Phong trào Cần Vương (phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, do giai cấp phong kiến lãnh đạo) đã chấm dứt ở cuối thế kỉ XIX với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (1896). Phong trào nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài mấy chục năm cũng thất bại vào năm 1913. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc. Trước khi Đảng Cộng sản được thành lập, cách mạng Việt Nam chìm trong khủng hoảng về đường lối cứu nước, các phong trào yêu nước và phong trào giải phóng dân tộc đều thất bại và bị dìm trong biển máu. Đảng cộng sản Việt Nam khi đó với đường lối đấu tranh “dân tộc hóa” tư tưởng Mác-Lênin, phục vụ thiết thực cho lợi ích của dân tộc nên đã thu hút được những người ưu tú nhất của mọi tầng lớp nhân dân lúc bấy giờ tham gia và sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân, vậy nên mới đi hết "từ thắng lợi này đến thắng lợi khác" mà điển hình là cuộc tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thành trì của chủ nghĩa thực dân buộc Pháp ngồi vào bàn hội nghị Geneve và rút quân khỏi VN.


Thường thì những người chống đối nhà nước có cái nhìn về lịch sử quá hạn hẹp, chỉ lấy mốc từ những năm 1954 để rồi từ đó đăng đàn phát biểu linh tinh. Nhưng họ quên mất cái điều cơ bản là Đảng Cộng sản VN ra đời năm 1930 giải quyết về khủng hoảng đường lối đấu tranh và cũng đồng thời là người khởi xướng cuộc đấu tranh giành độc lập năm 1945, rồi từ đó dưới sự lãnh đạo phong trào kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp khỏi Việt Nam.
Họ là đảng phái duy nhất hợp pháp tồn tại được nhân dân thừa nhận. Còn VNCH chỉ là biến thể của chính thể phi pháp Quốc gia Việt Nam do thực dân Pháp dựng lên trước đây để tiếp tục làm tay sai cho đế quốc Mỹ.

Họ quên mất rằng độc lập dân tộc là bất khả thiêng liêng xâm phạm. Cố giáo sư Trần Chung Ngọc, một cựu quân nhân của chính thể VNCH từng nói: Nếu nhân dân VN coi Pháp là xâm lược thì Mỹ cũng chính là kẻ xâm lược. 80% chiến phí của Pháp ớ chiến tranh Đông Dương là do Mỹ tài trợ.

Do đó, câu nói "không có Đảng cộng sản thì không có chiến tranh" thực chất là một điều vô cùng ấu trĩ. Nếu không có ĐCSVN thì chắc chắn dân ta vẫn là thuộc địa của Pháp, bị tiếp tục bóc lột đến tận cùng xương tủy. Nhưng nếu không có VNCH, tức không có một chế độ tay sai cho đế quốc Mỹ thì chắc chắn, cuộc chiến chống xâm lược Mỹ sẽ không kéo dài đến 20 năm với bao mất mát, hy sinh mà đến nay còn chưa khắc phục nổi.
***
Còn về vế thứ 2: Nếu không có Cộng sản, không có ngày 30-4 thì Sài Gòn chắc giàu hơn Hàn Quốc,.... chẳng qua là do bấy lâu nay mấy anh chàng chống Cộng thường hay tự nhồi sọ lẫn nhau về ảo tưởng "hòn ngọc Viễn đông" do Mỹ đổ tiền vào.

Vậy chúng ta thử trả lời những câu hỏi sau nhé.

Thứ nhất, VNCH có được các nhà lãnh đạo như Hàn Quốc không? (Diệm thì độc tài gia đình trị, đến thời của Thiệu thì tham nhũng tràn lan). Có tư liệu của một nhà nghiên cứu người Mỹ nghiên cứu chứng minh rằng Hàn Quốc giàu mạnh được như nay là nhờ… Nhật đã đầu tư vì mộng rằng Hàn Quốc là đất thuộc Nhật vĩnh cửu, nên đã góp phần tạo nên nền tảng từ con người đến cơ sở kinh tế cho Hàn Quốc sau này.

Thứ hai, liệu VNCH có tìm được 1 cuộc chiến tranh tương tự để ăn hôi ko? (trong chiến tranh tại Việt Nam, Hàn Quốc xuất khẩu hơn 300.000 lính đánh thuê phần lớn là tử tù, tội phạm và xuất khẩu gái điếm phục vụ quân đội Mỹ mới có tiền để công nghiệp hóa, làm thay đổi bộ mặt Hàn Quốc lúc bấy giờ).

Thứ ba, những đồng tiền Mỹ viện trợ đã được VNCH xài đúng mục đích bao nhiêu phần trăm?

(1) Theo phúc trình của nhóm VECCO xuất bản tại Sài Gòn tháng 1-1975 về kế hoạch phát triển kinh tế VNCH đến năm 2000 thì: riêng tại Sài Gòn năm 1974 có 3 triệu dân thì đến 60 vạn người thất nghiệp. Thu nhập của thiểu số "tầng lớp trên" chiếm 43,5% GDP, "tầng lớp dưới" chỉ đạt 1,8%.

(2) Qua các forum hay các tờ báo của người Việt ở hải ngoại bạn có thể đọc được các bài mạt sát tầng lớp lãnh đạo, tướng lĩnh của VNCH là tham lam, hèn nhát, là nguyên nhân thất bại của VNCH. Những người lính VNCH thì than thở lương tháng không đủ mua gạo và cá khô nuôi vợ con. Trong khi đó các tướng lĩnh và chính trị gia thì sống phè phỡn. Tại sân bay Tân Sơn Nhất lúc nào cũng đậu chình ình cái máy bay phản lực riêng của tướng Vĩnh Lộc, hay phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đi lại bằng trực thăng được mua bằng tiền túi...(!?).Thậm chí những ông tướng còn sử dụng xe quân đội để buôn ma túy để cho bọn CIA chụp hình được. Chính vì cái nạn tham nhũng tràn lan mà không bị bắt nên một phần chế độ VNCH sụp đổ là phải.

(3) Những cảnh tốt đẹp chỉ có thể thấy được ở một số nơi trong nội đô Sài Gòn, Nha Trang, Đà Lạt và một số quân khu lớn nơi mà có quân Mỹ đóng quân. Trước năm 75, hơn 85% dân số là ở nông thôn và một số thiểu số sống ở thành thị và đó là những tầng lớp tư sản và quan chức làm việc cho Mỹ. Phần lớn nhân dân còn lại đều sống ở nông thôn và phải chịu áp bức như gom dân lập ấp, dồn dân vào ấp chiến lược, đốt nhà, thả bom... Nói chung là cảnh "sống nay chết mai" không bao giờ biết được là chết khi nào. Với những cuộc càn quét liên tục thì người dân làm sao có thể yên tâm mà lao động và hưởng thụ thành quả của mình được? Nếu bạn có người thân lớn tuổi mà trước đây sống ở ngoại thành thì bạn có thể hỏi và thấy khác hoàn toàn. Làm nông mà không đủ sống, chỉ có những thành phần tư sản và làm việc cho Mỹ thì có thể mới 1 người nuôi tới 4,5 người và thậm chí cả dòng họ. Vì "ăn" vào viện trợ của Mỹ cho nên biến Sài Gòn thành "hòn ngọc Viễn Đông". Trong bộ phim dài tập "cuộc chiến tranh 10.000 ngày" thì một phần bạn cũng biết là nạn xì ke tràn lan được bán công khai. Rất nhiều gái điếm để phục vụ cho nhu cầu sinh lý của lính Mỹ. Nhiều đến nỗi mà quân Mỹ phải mở lớp sử dụng bao cao su cho lính của nó. Còn bài bạc thì được công khai và nạn cát cứ của những thành phần xã hội đen không thể nào dẹp được.
Một xã hội "phát triển, văn minh": diễn thoát y vũ phục vụ chủ Tây công khai trước cả mặt trẻ em!

(4) Bạn có biết là trước đây có một nhà xưởng nào của chế độ VNCH mà có thể xuất hàng ra khỏi nước Việt Nam được không? Chỉ thấy là toàn là cá của Nhật, sữa Mĩ, thậm chí là gạo của nước khác chứ không phải là của mình tự sản xuất được. Nạn đầu cơ tích trữ đã cho ra đời nhiều ông vua nắm giữ một mặt hàng độc quyền khác nhau. Đó là về kinh tế. Chưa thấy một nhà kinh tế nào trong thời gian đó hoặc thời gian sau này ca ngợi một thành tựu nào của chế độ VNCH cả. Còn mỗi lần tổng động viên thì học sinh phải trốn vì sợ bắt đi lính. Phải khai gian tên tuổi để khỏi bị bắt đi quân dịch. Bởi vì biết khi vào quân đội thì cái chết lúc nào cũng kề cận. Tình trạng chiến tranh và bắt quân dịch liên miên không thể nào cho học sinh có đủ thời gian học lên nữa.

(5) Vậy chế độ VNCH tồn tại và sự phồn vinh giả tạo là nhờ vào bầu sữa của Mỹ. Cho đến khi Mỹ cắt viện trợ thì Sài Gòn hoàn toàn không còn là "hòn ngọc" nữa. Khi Mỹ cắt viện trợ,Nguyễn Văn Thiệu quay lại chửi Mỹ là vô nhân đạo và ông ta cũng nói 1 câu như thế này: "Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập! ". Còn về so sánh ảo tưởng Việt Nam sẽ như Hàn Quốc, Nhật Bản hiện nay ư? Tôi cho rằng: câu trả lời là có và đây sẽ là một trong 10 cường quốc nhưng là Top 10 cường quốc buôn ma túy trên thế giới. Vì được chính "đội quân quốc gia" bảo kê. Tỉ lệ nhiễm HIV sẽ cao ngang hoặc hơn Châu Phi do nạn "mại dâm" quá cao.

Vậy nên chỉ đối với những kẻ có lòng dạ ích kỷ hẹp hòi còn đang vọng tưởng về những lợi lộc được hưởng lợi từ chế độ VNCH, khi họ "ngồi mát ăn bát vàng", chà đạp đồng bào mà sống thì đương nhiên 30 tháng 4 không phải là ngày “giải phóng”. Nhiều triệu người đã phải hy sinh cả mạng sống để Việt Nam có hòa bình thống nhất, không còn chém giết nhưng họ lại buồn hận chỉ vì chén cơm bị đá đổ! Buồn hận kiểu này có nên được thông cảm không nhỉ? Họ là vàng, còn dân tộc là cỏ rác hay sao?
[...]

Categories: ,
Comments

Trong "Lời kêu gọi" dưới đây tác giả Nguyễn Biên Cương không đề cập đến những phát biểu của ông Đặng Ngọc Tùng, Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, mà chỉ nhắn nhủ với các "lều báo" và "zân chủ gia". Tuy nhiên, về đề tài thì rõ ràng liên quan mật thiết đến những gì ông Tùng đã làm gần đây. Chúng tôi tự hỏi không biết ông Tùng sẽ nghĩ gì khi đọc bài viết này vì theo so sánh thì những phát ngôn và hành động của ông trên báo chí gần đây cũng chẳng có gì khác biệt với 2 đối tượng mà tác giả bài viết nhắn nhủ.

Đừng nịnh Mỹ bằng cách chạy tội cho VNCH - Tác giả: Nguyễn Biên Cương

Đó là một sai lầm chiến lược.

Ta có thể dễ hiểu, cảm thông cho những Việt kiều gốc VNCH, vì hận thù thể chế, chính thể, vì danh dự, thể diện….mà chạy tội, bao biện cho bản thân và chế độ ngụy quyền ấy. Đó là chưa kể họ nhờ “chính sách nhân đạo” của Mỹ mà có chỗ dung thân nên họ “ăn cây nào rào cây đó”, trở thành người Mỹ, mang quyền lợi, bảo vệ lợi ích cho Mỹ là điều dễ hiểu. Hạnh phúc gì bằng khi được nhúm người Việt trong nước chạy tội, chữa nhục cho mình!

Những đối với các zân chủ gia, biểu tình viên, một số lều báo, vì muốn thay đổi thể chế chính trị hiện nay, muốn nghiêng về Mỹ, muốn Mỹ bảo kê cho Việt Nam chống lại Trung Quốc thì việc chạy tội cho VNCH là sai lầm chiến lược.

Những năm gần đây rộ nên các zân chủ gia này đã “luồn lách” cửa đi cho mình bằng dấy lên chiến dịch tẩy chay Trung Quốc, tưởng niệm, vinh danh 74 tử sĩ VNCH hy sinh năm 1974, xem đây là cơ sở để hòa giải dân tộc, tăng cường sức mạnh đoàn kết dân tộc chống ngoại xâm. Lý lẽ thoạt nghe tưởng như rất thuyết phục. Ấy thế nên những thành phần vọng Mỹ này đã thành công phần nào trong khi khiến một số báo chí lớn hưởng ứng, dư luận nhân dân không phản ứng, có vẻ như dễ dàng chấp nhận. Bởi 74 tử sĩ ấy, dù phục vụ quân đội nào, dù chết trong hoàn cảnh nào nhưng là chết do bảo vệ chủ quyền đất nước, chẳng có lý do nào để phủ nhận họ, làm tổn thương đến linh hồn của họ .

Nhưng cái nhìn với lịch sử thì lại khác. Người ta sẽ dễ dàng nhìn thấy động cơ bên trong của những hành động khoác cái vỏ nhân đạo, nhân văn bề ngoài khi so sánh hai hành động tưởng niệm 74 tử sĩ VNCH với 64 liệt sỹ QĐNDVN cùng hy sinh vì chủ quyền biển đảo. Một bên thì khuyếch trương thái quá, thực chất mượn cớ để quảng bá, khoe lực lượng đối lập trong nước, một bên thì làm cho lấy lệ, làm để chữa ngượng cho mình vì đã chót nống vấn đề này. Dù cách thức khéo kéo che đậy đến đâu, nhưng không giấu nổi dã tâm. Và tôi phải khẳng định rằng đừng nên tiếp tục chạy tội cho VNCH, nếu tiếp tục các anh chị càng thúc đẩy nhanh hơn sự thất bại, lạc loài của mình:

- VNCH rõ ràng là đội quân được Mỹ tạo dựng, nuôi dưỡng, nhưng khi trở nên vô dụng thì Mỹ bán đứng. Nó đã biến mất hoàn toàn dấu vết trên lãnh thồ Việt Nam cùng với sự ra đi, bại chiến của Mỹ. Cả thế giới ngày này đều biết đến Việt nam qua cuộc chiến tranh chống Mỹ oanh liệt, mỗi khi Mỹ định gây chiến ở đâu là lại nhắc đến Việt Nam như một lời đe dọa, cảnh tỉnh hòng cản chân Mỹ.

VNCH là quân đội tiếp tay cho Mỹ trong khoảng 20 năm chiến tranh đã tàn sát ít nhất 3 triệu người Việt (không thua gì con quỷ Nazi Đức về tội diệt chủng), cả hai miền chịu cảnh bị tàn phá bởi 7 triệu tấn bom đạn, bị tiêu diệt mầm sống với 77 triệu lít chất độc Da Cam hoàn toàn có xuất xứ “made in USA”). Cùng với lính ngụy VNCH, Mỹ còn trả tiền cho 400 000 lính đánh thuê Nam Hàn là tội phạm hình sự, tử tội sang Việt Nam tàn sát người Việt. Bởi vậy việc bào chữa cho VNCH, phục dựng cái thây ma này là điều ngu xuẩn tệ hại, không bao giờ chiếm được lòng tin đông đảo dân chúng, bất kể họ đang có bất bình với khiếm khuyết của chế độ hiện hành đến đâu.
Ngay cả khi đã an phận tại "xứ sở tự do" gần 40 năm, tàn dư ngụy quyền vẫn không mất đi não trạng nô lệ.

- Thực ra thân Mỹ là tốt, tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ kiềm chế, đối trọng với Trung Quốc và các cường quốc khác là quá tốt. Hồ Chí Minh từng muốn bắt thân với Mỹ nhưng thất bại. Nhưng việc phục dựng VNCH để chạy tội cho Mỹ, thể hiện sự sùng bái Mỹ, mong Mỹ bảo kê chống Trung Quốc lại là cái ngu thế kỷ. Chính sách ngoại giao, quốc phòng của Mỹ là lưỡng chuẩn, Mỹ không đời nào làm gì mà không có lợi cho họ. Người Việt cũng như các dân tộc trên thế giới không ngu đến mức, chưa nhận ra điều này. Đúng như Tổng thống Nga Putin nói, bản chất con bài dân chủ của Mỹ là:

"Tại một nơi nào đó ở Mỹ, nhân viên tại phòng thí nghiệm ngồi một chỗ và tiến hành thí nghiệm trên những con chuột mà không rõ về hậu quả mà họ đang làm".

Con đường tồn vong duy nhất đối với nước nhỏ như Việt Nam khi đứng giữa các anh lớn là đừng để biến thành công cụ cho bên nọ đánh bên kia, thân phận sẽ không hơn con tốt thí trên bàn cờ quốc tế, y như VNCH, trở thành con bài thỏa hiệp, đi đêm, mua chuộc lợi ích khi hết vai trò. Ukraina là bài học cho bất kỳ nước nhỏ nào không muốn bị xé tan hoang thành nhiều mảnh.

- Lợi dụng người chết cho mưu đồ chính trị vốn được xem là kỵ húy về tâm linh, thủ đoạn chính trị không lành mạnh này khiến đông đảo người Việt sẽ thấy rõ sự bế tắc đường lối hoạt động, sự yếu kém năng lực của nhóm tự xưng là LỰC LƯỢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP, vậy thì ai dám mạo hiểm đặt lòng tin vào họ?

HÃY DỪNG VIỆC LẠM DỤNG 74 TỬ SĨ VNCH LẠI ĐI, các lều báo, zân chủ gia!
© Nguyễn Biên Cương
[...]

Categories: ,
Comments

Không biết có đúng hay không nhưng việc truyền thông Việt "bỗng dưng" lấy ngày 17/02 làm ngày kỷ niệm Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 có lẽ cũng phần nào xuất phát từ những trò mèo của đám dân chủ cuội bờ Hồ. Kể cũng lạ, người ta thường chỉ kỷ niệm những ngày chiến thắng, những ngày kết thúc cuộc chiến, như ngày chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa vào mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), ngày chiến thắng Điện Biên Phủ 07/05/1954, ngày giải phóng thủ đô 10/10/1954, ngày giải phóng Sài Gòn 30/04/1975,.. chứ chẳng thấy ai đi "kỷ niệm" ngày mình bị kẻ địch tấn công cả. Trong khi đó, ngày Trung Quốc rút toàn bộ quân khỏi Việt Nam là ngày 18/03/1979, đánh dấu thắng lợi của quân dân ta trong việc đập tan âm mưu bành trướng của Trung Quốc thì trước giờ chẳng thấy "dân chủ cuội" và báo chí hó hé. Có lẽ vì là trò của "cuội" nên nó phải khác người chăng?

Cuộc chiến có thể được coi là chấm dứt sau khi Trung Quốc rút quân về nhưng trên thực tế, xung đột biên giới còn kéo dài suốt 10 năm sau đó. Tiếng súng vẫn tiếp tục vang trên bầu trời biên giới. Máu vẫn tiếp tục chảy. Và "phần cuối của cuộc chiến thì giống như được vặn nhỏ volume lịm dần rồi tắt hẳn năm 1989". Nhưng mọi chuyện chỉ thực sự chấm dứt sau hội nghị Thành Đô (3-4/9/1990) và sau đó là chính thức ra Thông cáo chung, ký kết Hiệp định chính thức quan hệ bình thường hai nước trên cơ sở năm nguyên tắc hòa bình vào 11/1991.
Để phần nào hình dung tình cảnh đất nước bấy giờ trong mắt người dân, người lính bình thường cũng như xúc cảm thực sự của họ khi nhớ về thời gian khó đấy, mời các bạn xem tâm sự dưới đây của tác giả Nguyễn Lê Tâm, một cựu chiến binh thời xung đột trên biên giới phía Bắc.

35 năm ư? Không! 25 năm thôi! - Tác giả: Nguyễn Lê Tâm
Về cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1979, nhân dân ta không hoàn toàn bất ngờ. Trước khi chiến tranh nổ ra chính thức thì cả nước đã căng thẳng khi đài phát thanh thông báo từng ngày về tiến độ tập kết quân đội Trung Quốc. Bao nhiêu sư đoàn, bao nhiêu tăng, bao nhiêu pháo áp sát biên giới? Đủ hết.

Nhiều cán bộ dưới xuôi được điều lên nằm vùng nắm tình hình sát biên. Đài báo suốt ngày. Sinh hoạt đoàn thanh niên lu bù các tinh thần sẵn sàng vì tổ quốc. Các chiến hào phòng thủ được tổ chức đào khắp nơi. Ngay ở Hà Nội thì mọi công tác chuẩn bị đón địch cũng được triển khai. Hầm hào được khôi phục. Những người dân ở các thị xã giáp biên đã chuẩn bị tinh thần sơ tán.

Điều bất ngờ có chăng là mọi người vẫn tin rằng Tàu không đánh mà chỉ rung dọa.

Mình rất nhớ lời thông báo trên đài phát thanh ngày 17 – 2 với giọng đọc nữ truyền cảm đanh thép nêu rõ quân xâm lược đã tràn qua 6 tỉnh biên giới và kêu gọi toàn quân , toàn dân chung một ý chí đẩy lùi sự tàn bạo của kẻ xâm lược. Cũng chỉ không lâu sau lời kêu gọi thì ca khúc “Chiến đấu vì độc lập tự do” của nhạc sĩ Phạm Tuyên mà mọi người thường gọi cái tên khác là “Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới” được phát liên tục. Ca khúc với giai điệu thôi thúc này đã khiến cho cả nước sôi sục. Người Việt Nam đời thường thì lắm cái đáng phàn nàn nhưng khi đất nước gian nguy thì trở nên mạnh mẽ và tươi sáng lạ kỳ. Tinh thần quyết tâm bảo vệ tổ quốc lan tỏa như hồng cầu trong huyết quản hàng triệu dân từ cụ già, thanh niên đến em bé. Khi còn là anh em cùng phe thì người Việt vẫn kỳ thị Trung Quốc mà chỉ mê Liên Xô. Vì thế, đợt này tinh thần càng hăng.

Chiến sự đưa tin hàng ngày về sự ác liệt. Bao giờ cũng có những tấm gương anh dũng diệt thù như Lê Đình Chinh, Hoàng Thị Hồng Chiêm… đến cậu thiếu niên Đàm Văn Đức cũng diệt xe tăng địch. Những hình ảnh xe tăng T 59 (*) của địch bị bắn tung cả tháp pháo khiến dân ta hả dạ. Truyền hình phát đi nhiều hình ảnh các nước, nhiều đoàn biểu tình cả Âu cả Phi cả Á, hô vang khẩu hiệu "Trung Quốc cút khỏi Việt Nam". Có một bài hát ngày xưa chống phát xít mình không rõ tác giả hay là dân ca thì những người bạn năm châu lại phổ lời mới hát với nội dung chống Trung Quốc xâm lược. Không rõ ai đã đặt lời Việt cho bài này và nó đã vang lên hùng tráng ở Việt nam:

Bao nhiêu con tim sững sờ chợt nghe quân cướp đất nước Việt nam,
Xích xe tăng quân Trung Quốc phá tan biết bao xóm quê bình yên.
Hôm nay năm châu tiếp tục bài ca đoàn kết chiến đấu năm xưa,
Cùng Việt Nam đấu tranh giành tự do.

Hãy kết đoàn cùng Việt Nam đấu tranh!
Là bài ca trái tim tháng năm này.
Hãy kết đoàn cùng Việt Nam đấu tranh!
Cùng Việt nam đấu tranh giành tự do!

Tên Goliath coi chừng Việt Nam - David chiến đấu hôm nay,
Chiến tranh hôm nay David có thêm bao nhiêu anh em kề vai.
Theo chân bao quân xâm lược bọn bay phải chết dưới đất thiêng này,
Hãy chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam!

Hãy kết đoàn cùng Việt Nam đấu tranh!
Là bài ca trái tim tháng năm này
Hãy kết đoàn cùng Việt Nam đấu tranh!
Cùng Việt Nam đấu tranh giành tự do!

Xin mời nghe giai điệu ở đây:


Trong lúc đó thì có chú cán bộ chạy thẳng từ biên về Hà Nội. Điều này khiến bà con dị nghị. Mình cũng thấy chối, nhưng bố mình bảo: Con không hiểu gì về chiến tranh. Nếu là bộ đội, du kích thì có vũ khí bám đất mà đánh. Còn cán bộ dưới xuôi lên không tấc sắt trong tay thì phải chạy là dễ hiểu. Không nên bắt tất cả mọi người đều phải anh hùng như trên báo chí. Điều này mình nghĩ mãi, khi trưởng thành mới hiểu.

Nhà mình đón đoàn sơ tán đầu tiên chạy thẳng từ Lạng Sơn về Hà Nội. Đấy là nhà cô Lưu. Gia đình có vài người trong đó có ông cụ Lưu cỡ 75 tuổi. Những người già yếu và trẻ con chạy trước. Thanh niên thì theo tổ đội bám đất bao vây địch.

Ngày xưa, nhà mình sơ tán về nhà anh Mong khi bom Mỹ thả xuống Hà Nội, được gia đình đó rất chăm sóc, nên bây giờ người khác hoạn nạn thì cả nhà mình rất xúc động. Thời này đang đói dài nên có gì ăn nấy.

Đoàn sơ tán thứ hai là nhà cô Nghệ, cũng của Lạng Sơn nhưng ở Hữu Lũng, huyện cuối của tỉnh. Từ biên giới tới Hà Nội chừng 160 cây số. Hữu Lũng ở quãng giữa. Nhà cô cách Mẹt khoảng 10 cây số. Cô Nghệ kịp mang về Hà Nội nhiều đồ đạc và lương thực hơn. Hồi ấy thiếu gạo nhưng có rất nhiều khoai tây. Ăn khoai tây muốn ợ ra.

Khoảng cách thì gần nên ai cũng sẵn sàng chờ địch tại Hà Nội.

Về mặt quân sự mà nói thì Tàu không thể tiến quân nhanh được vì quá nhiều phòng tuyến đào dọc đào ngang đang chờ chúng. Nổi tiếng có phòng tuyến Sông Cầu là nhiều thế hệ thanh niên đã tham gia đào đắp.

Cái không khí đùng đoàng dồn dập khiến trẻ con thì khí thế, người già thì lo âu.

Các cụ bảo:
Con ơi nhớ lấy câu này
Thằng tây nó tếch thằng tàu nó sang.

Các đơn quân đoàn chủ lực chưa ra trận. Nghênh địch chỉ có một số đơn vị bộ đội địa phương và dân quân nhưng rất chắc chắn, kiềm chế địch hiệu quả.
Trong cuộc chẳng ai biết khi nào thì kết thúc. Lởn vởn trong đầu ám ảnh thời gian đằng đẵng các cuộc chiến trước đó.
Đánh Pháp 9 năm,
đánh Mỹ 21 năm,
đánh Pôn Pốt 5 năm (Bắt đầu từ 1975, lính Pôn Pốt đã tấn công một số đảo của Việt Nam, cuộc tấn công qui mô đầu tiên là 1977. Mọi thứ tạm chấm dứt 1979).

Vậy cuộc này kéo dài mấy năm? Một số người lớn đã tính những phương án xấu như nếu phòng tuyến vỡ phải bỏ Hà Nội thì kịch bản tiếp theo là về đâu. Rất căng thẳng.

Khoảng đầu tháng 3, các phương tiện truyền thông công bố, cuộc chiến đấu chống quân xâm lược đã giành thắng lợi. Toàn bộ quân xâm lược đã bị đẩy bật về bên kia biên giới.

Cả nước vui mừng. Gia đình cô Nghệ trở về Hữu Lũng trước, cô Lưu vẫn để ông cụ ở lại. Khi ấy anh Thành, con cả của cô Lưu về Hà Nội để chuẩn bị đưa già đình hôi hương. Anh là một người rắn rỏi râu quai nón. Hỏi anh công việc ở tỉnh thì anh bảo anh và thanh niên ở đó phải bám địa bàn, kiềm chế địch. Sau khi địch rút thì mình vào tiếp quản. Thu dọn các đống đổ nát và dọn xác người. Việc nhận dạng rất khó khăn do xác đã biến dạng. Xác của lính tàu để lâu trương phình lên. Có xác nát bét phân hủy nhiều dòi bọ thì phải lấy xẻng hót. Cũng có khi thiếu xẻng thì phải bốc bằng tay. Thối kinh khủng. Từ câu chuyện của anh tự nhiên cứ thấy cái mùi thối nó ám ảnh vương vấn trên gương mặt tươi tắn của anh Thành.

Nhiều người trẻ nghĩ rằng cuộc chiến chỉ xảy ra ngót một tháng. Nghĩa là từ 17 - 2 tới 5 - 3 mà thôi. Thực ra, cuộc chiến này cao trào nhất là đoạn ấy, nhưng cái phần tiếp theo kéo dài 10 năm tới tận năm 1989 mới khép lại thì ít ai để tâm.

Việc giữ đất ròng rã suốt từ 1979 đến 1989 là nhiều thế hệ nối tiếp nhau cầm súng.

Mỗi năm có ít nhất 2 mùa tuyển quân thì có ít nhất 20 độ tuổi thanh niên phải nhận nhiệm vụ trấn giữ biên ải này. Thời gian đó dài hơn kháng chiến chống Pháp.

Cạnh nhà mình có anh Sự lính giữ biên ở Lào Cai. Cũng được dán chữ thọ mà không chết. Buồn cười nhất là một cậu đồng đội mang thư của anh Sự từ Lào Cai về kể chuyện chiến đấu rất thật thà: "Cháu nói thật với cô chứ bọn cháu khiêng xác thì chọn thằng nào nhẹ khiêng về trước chứ to béo như anh Sự nhà cô là bọn cháu để sau".

Cậu Ba là cậu trẻ nhất bên ngoại nhà mình được thưởng do bắt được thám báo Tàu cũng là quãng thời gian này.

Điểm nóng cao trào khúc giữa của cuộc chiến biên cương rơi vào 1984. Đúng thời gian này mình đi bộ đội. Đơn vị mình là sư đoàn 10, quân đoàn 3 được điều từ Cam Pu Chia về để sẵn sàng đáp ứng tình hình mới. Có nhiều đợt báo động lên biên, nhưng mình cũng may là không đến lượt.

Mùa hè năm ấy, anh Hiên, một người dân thân thiết hỏi: Chú mày sắp lên biên à?

Mình bảo: Em có thấy phổ biến gì đâu.

Anh Hiên bảo: Phát quân trang quân dụng rồi. Rồi đài địch nó nói cho mà xem. Nhiều thằng mang đồ quân dụng ra bán cho dân. Biết ngay.

Tối hôm ấy, mình thấy sáng rực đèn pha ở sân vận động hàng trăm xe chở quân Zin 131. Ngồi trên đồi ngắm xuống, anh Ninh, bác sĩ của đơn vị bảo: Đây là hình ảnh của chiến tranh đấy.

Mình ngắm hàng trăm xe tải đen sì và liên tưởng. Chừng này xe đi là bao nhiêu lính? Trở về được bao nhiêu?

Đoàn xe chuyển bánh lên biên. Y rằng đài địch thông báo ngay đơn vị này đã tiếp ứng cho Vị Xuyên. Nhưng nó chỉ đi 1 vòng rồi trả quân lại chỗ cũ. Té ra đó chỉ là nghi binh gây rối thông tin cho Tàu. Lên biên thật thì âm thầm chứ không trống rong cờ mở thế.

Sau đó có đợt đi thật thì chỉ đi 1 tiểu đoàn, không nhiều lắm, trong đó có Dũng Kều DKZ và Tấn Còm 12 ly 7.

Dũng và Tấn tốt nghiệp đại học rồi nhưng phải cầm súng ngay. Dũng cao lêu nghêu như con sếu chơi Bass khá hay và điềm đạm. Tính cách khiêm nhường của bè trầm. Tấn Còm là một tay ngang tàng, vừa chơi guitar vừa lại sáng tác ca khúc ngon lành. Gã vừa là tay đầu trò văn nghệ vừa vượt trội anh em về năng khiếu tán gái. Hai tay này thường giật giải các cuộc thi văn nghệ của đơn vị. Bây giờ lên chốt có mỗi việc ôm DKZ với 12 ly mà canh Tàu như canh trộm.

Đồng đội Hòa Vịt vốn là thi sĩ ngôi sao của trung đoàn có viết thế này:

Bạn lên đường với cây ghita
Bên khẩu cối, khẩu AK bóng thép
Nơi ấy pháo thù ngày đêm gào thét
Có tiếng hát ấm lòng, điểm tựa vững niềm tin.

Đối mặt quân thù, nơi ấy, Vị Xuyên
Nơi Tổ quốc mang vóc hình Dũng Sỹ
Nơi tuổi trẻ dựng trường thành chiến lũy
Là lòng mình tha thiết bạn bè thân.

Riêng hai "đồng bọn" Dũng Kều và Tấm Còm có câu:

Thằng "Tấn Còm" vừa huơ đàn lên
Thằng "Dũng Kều" cổ tròng giá súng
Cái lưng còng như bỗng còng thêm…
Mày chạy lăng xăng
Tao muốn cười không được…

Tháng 7 năm 1984, những trận đánh nặng nề đã diễn ra tại Vị Xuyên. Con số thương vong với mật độ rất cao. Có đơn vị mất tới 600 người/ngày. Con số này bí mật, chỉ được công bố trên báo thời gian gần đây.

Mỗi tài liệu liệt kê mỗi khác, nhưng chung nhau là rất cao và rất đau. Đất nước kiệt quệ trong tình trạng một phần thanh bình, một phần máu vẫn đổ. Trong 10 năm đó, có nhiều đồng đội ngã xuống; Nhiều đồng đội thương tật; Có thằng Dũng Kều, Tấn Còm may mắn trở về.

Ca khúc "Đất nước" của Phạm Minh Tuấn là hình ảnh thật sự lay động:

Ngăn bước quân thù phía nam phía bắc
Vai mẹ lại gầy gánh gạo nuôi con

Ngoài ca khúc này còn rất nhiều ca khúc hay như: "Chúng con lên đường hình Tổ Quốc trong tim", "Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận", "Những đôi mắt mang hình viên đạn", "Hoa hồng trên điểm tựa", "Hoa sim biên giới", "Bài ca biên giới", "Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt", "Bài ca trên đỉnh Pò Hèn"... Nhiều lắm. Với tôi đó là báu vật.

Phần cuối của cuộc chiến thì giống như được vặn nhỏ volume lịm dần rồi tắt hẳn năm 1989.

Cánh đây vài năm, mình đi du lịch Trung Quốc, lướt xe bus quan Hữu nghị quan, ngắm con người, nhà cửa từ biên giới tới Bằng Tường, Nam Ninh mà lan man nghĩ ngợi. Thời 10 năm ấy, thật khó tin là có ngày lại có thể sang biên dễ dàng đến như vậy. Bây giờ nhiều người đã quên hẳn cuộc chiến ấy. Lại thấy có gì đó bùi ngùi.

Những cuộc chiến khác chúng ta thường kỷ niệm vang khúc khải hoàn cuối cùng như 10 - 10 của đánh Pháp, 30 - 4 của đánh Mỹ. Nhưng cuộc chiến này dường như mọi người chỉ nhớ mỗi thời điểm phát súng đầu tiên. Vì thế, Khi tưởng nhớ cuộc chiến này, chúng ta thường nhắc tới con số 35 năm. Dường như cuộc chiến đã lùi xa 35 năm rồi. Nhưng với 10 năm dai dẳng biên giới với không ít chiến sĩ tiếp tục ngã xuống trên biên giới và trên biển thì cuộc chiến này mới chỉ lùi xa 25 năm thôi. Đừng quên sau 79 vẫn còn tới 9 năm xương máu tiếp tục rơi. Tiếng súng vẫn gần lắm. Điều đó nhắc nhớ hậu thế hãy cẩn trọng hơn trước binh đao có thể đến bất cứ lúc nào.

© Nguyễn Lê Tâm 16 – 2 - 2014

Chú thích của Leubao.vn
(*) Có thể tác giả đã nhầm lẫn với tăng T62, một loại tăng hạng nhẹ giống hệt T59, loại tăng hàng trung ("nhái" T54). Trong chiến tranh biên giới phía Bắc, Trung Quốc đã sử dụng khoảng 200 chiếc T62 và một nửa trong số đó đã bị tiêu diệt.
[...]