• RSS
  • Facebook
  • Twitter
Showing posts with label Việt - Trung. Show all posts
Showing posts with label Việt - Trung. Show all posts
Comments

Giữa lúc tình hình Biển Đông đang căng thẳng thì chuyện thoát khỏi sự phụ thuộc vào Trung Quốc là mốt, người người nói chuyện thoát Trung, nhà nhà nói chuyện thoát Trung. Báo chí cũng nhân dịp đưa các chuyên gia đủ các loại ra vẽ đường cho xứ Việt Nam nhanh chóng độc lập về mặt kinh tế. Rất nhiều giải pháp đông tây kim cổ, từ cao đơn hoàn tán đến mãi võ Sơn Đông hay bí quyết bán hàng đa cấp đều đã được trưng ra, song câu hỏi đầu tiên: "Phụ thuộc về kinh tế là gì?" thì dường như không có câu trả lời.
Thật khó lòng phân biệt "báo chí cách mạng" và báo chí phản động!



Sự phụ thuộc kinh tế theo quan niệm phổ biến

Nhìn chung thì giới chuyên gia kinh tế đưa ra các nhận định về phụ thuộc như sau:

1. Việt Nam xuất khẩu phần lớn nông sản với giá rẻ sang Trung Quốc, tức là phụ thuộc Trung Quốc về thị trường nông sản.

2. Việt Nam nhập khẩu số lượng lớn hàng hóa nguyên liệu và tiêu dùng với giá rẻ của Trung Quốc, tức là phụ thuộc vào hàng hóa Trung Quốc.

3. Trung Quốc thắng phần lớn các dự án đấu thầu ở Việt Nam bằng cách bỏ giá thấp, các dự án này hay bị đội vốn, tức là Việt Nam phụ thuộc vào nhà thầu Trung Quốc.

Quanh đi quẩn lại, bao nhiều bài báo, bao nhiêu nhận định, bao nhiêu đánh giá , bao nhiêu diễn văn hoành tráng đều có thể tóm tắt bằng ba nội dung đó.

Đối với bất cứ người nào có chút ít hiểu biết thì ba nội dung đó hoàn toàn vô nghĩa.

Nếu bán nông sản cho Trung Quốc mà là phụ thuộc vào Trung Quốc thì cả thế giới này phụ thuộc vào Trung Quốc, vì Trung Quốc đang là một trong những thị trường tiêu thụ nông sản lớn nhất thế giới, không có hàng hóa nào mà họ không nhập với số lượng lớn từ nhiều nước khác nhau từ Việt Nam tới Mỹ hay Brazil. Không có quốc gia nào điên rồ tới mức từ chối bán hàng một thị trường lớn đến như vậy để được độc lập về kinh tế. Chuyện hàng nông sản Việt Nam bán sang Trung Quốc với giá rất rẻ là đúng, nhưng hàng nông sản Việt Nam xuất sang các nước khác như Philippine hay các nước châu Phi với giá cũng rẻ không kém. Sau nữa là vấn đề bán hàng hóa không phải là giá rẻ hay giá đắt mà là ở lợi nhuận, bán hàng giá rẻ mà có lợi nhuận thì vẫn nên làm còn bán hàng giá đắt mà mình không có lợi nhuận do phải đầu tư lớn hơn thì không phải là quyết định khôn ngoan. Nguyên nhân chính của việc phải bán nông sản giá rẻ khắp thế giới là do nông nghiệp Việt Nam vẫn còn nhỏ bé, phát triển tự phát manh mún, chưa hình thành nền sản xuất hàng hóa lớn.

Nếu nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc mà là phụ thuộc vào Trung Quốc thì cả thế giới này phụ thuộc vào Trung Quốc vì khắp thế giới không nước nào không tiêu thụ hàng hàng hóa Trung Quốc giá rẻ. Chẳng có quốc gia nào điên rồ đến mức độ tránh dùng hàng hóa của Trung Quốc, dùng hàng hóa đắt hơn và ít hơn để gánh chịu thiệt hại nặng nề về kinh tế, để được độc lập trong nghèo đói. Nước Mỹ là nước nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc lớn nhất thế giới, nhập siêu từ Trung Quốc của họ cao gấp cả chục lần Việt Nam, có ai dám nói Mỹ phụ thuộc Trung Quốc về kinh tế không? Các chuyên gia lại còn giở cái giọng hàng tôm hàng cá rằng hàng Trung Quốc chất lượng kém, độc hại, không nên dùng. Trong chuyện buôn bán người mua là người có quyền lựa chọn, hàng hóa của Trung Quốc cũng có loại tốt có loại xấu, tại sao không mua hàng tốt mà cứ đi mua hàng xấu rồi nói nó kém, nó độc hại? Thế nên chuyện ấy phải hỏi trách nhiệm của các nhà nhập khẩu hàng hóa, đổ lỗi cho Trung Quốc thì chỉ làm trò cười cho họ mà thôi.

Điều nực cười là mua hàng của Trung Quốc bị coi là phụ thuộc, đến bán hàng cho Trung Quốc cũng bị coi là phụ thuộc. Tức là buôn bán với Trung Quốc bị coi là lệ thuộc, còn buôn bán với nước khác thì không bị coi là lệ thuộc.

Trong đấu thầu thì nguyên tắc quan trọng nhất là giá cạnh tranh, ai đặt giá cạnh tranh hơn là thắng, ở bất cứ nước nào bất cứ lĩnh vực nào cũng đều thế cả. Trước Trung Quốc cả trăm năm, doanh nghiệp Nhật Bản cũng từng đưa nhân công bản địa đi nhận thầu các công trình với giá rất rẻ trên khắp thế giới, đâu đâu cũng coi họ là một món hời bất ngờ vì nhờ có họ mà chủ đầu tư tiết kiệm được một khoản chi phí lớn. Lúc đó không thấy có ai lo ngại về sự phụ thuộc kinh tế vào Nhật Bản. Các gói thầu của Việt Nam bị đội vốn lên cao là do năng lực quản lý của chủ đầu tư Việt Nam yếu kém. Không chỉ có các công trình do doanh nghiệp Trung Quốc nhận thầu mà ngay cả các công trình do doanh nghiệp nước ngoài như Nhật Bản hay doanh nghiệp trong nước nhận thầu cũng bị đội vốn khủng khiếp bởi hàng trăm, hàng ngàn các lý do phát sinh khác nhau. Mặt khác, thủ tục hành chính nhiêu khê, sự thiếu nhất quản trong quản lý nhà nước, sự quan liêu trì trệ của chủ đầu tư đã khiến nhiều nhà thầu nước ngoài dù trúng thầu cũng phải bỏ chạy, thậm chí ngay cả trong các công trình quan trọng bậc nhất. Không thiếu những nhà thầu uy tín trên thế giới không muốn nhận thầu các công trình ở Việt Nam vì mức độ rủi ro quá lớn. Việc Trung Quốc trúng thầu các dự án quan trọng ở Việt Nam không phải là bằng chứng sự phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc, mà ngược lại cho thấy Việt Nam đang chưa bắt kịp sự phát triển của thế giới.

Tự do buôn bán làm ăn không thể bị coi là lệ thuộc kinh tế, nếu coi đó là lệ thuộc kinh tế thì tốt hơn hãy đóng cửa mà tự cấp tự túc, khỏi lo bị lệ thuộc ai. Lại càng không thể lập luận buôn bán với nước này là lệ thuộc còn buôn bán với nước kia thì không lệ thuộc. Đó là lập luận của đám trẻ con tiểu học, thích ai thì người đó tốt, ghét ai thì người đó xấu.

Sự phụ thuộc kinh tế thật sự

Hiện nay, các tập đoàn kinh tế nước ngoài đầu tư nhiều vào Việt Nam và đòi hỏi những khoản ưu đãi khổng lồ về đất đai, thuế khóa và cơ chế, trong khi lợi ích mà họ đem lại thì lại rất không tương xứng. Để phục vụ cho dự án của các tập đoàn đa quốc gia này, hàng ngàn hàng vạn gia đình Việt Nam đã bị mất nhà cửa, mất sinh kế hàng ngày, và phải gánh chịu các ảnh hưởng tiêu cực về môi trường sống, sinh hoạt xã hội bị xáo trộn nghiêm trọng. Nhà nước phải gánh chịu một khoản chi phí an sinh xã hội ngày càng lớn hơn trong khi nguồn thu bị thâm hụt nặng nề dẫn đến chỗ có thể phá sản. Chính sách kinh tế của quốc gia đang dần dần rơi vào sự kiểm soát các tập đoàn nước ngoài, không phục vụ cho lợi ích của đa số dân chúng mà chỉ phục vụ cho nhu cầu kiếm lợi của họ. Đó là mới chính là sự lệ thuộc về kinh tế. Sự lệ thuộc này gần như vô hình, không thấy rõ trong đời sống hàng ngày nhưng so với một món hàng Trung Quốc kém chất lượng thì nguy hiểm hơn hàng triệu lần. Một món hàng độc hại có thể giết chết một người còn một chính sách kinh tế độc hại có thể giết chết cả một quốc gia.
(Theo Cu Nỡm xóm liều)
[...]

Categories:
Comments

Tôi viết bài này có thể sẽ động chạm đến rất nhiều người, thậm chí có những người sẵn sàng quay lưng lại để chửi bới tôi nhưng tôi cảm thấy không thể không nói được. Tôi đã từng nghĩ có thể sẽ im lặng, nhưng cuối cùng tôi nhận ra sự im lặng sẽ chỉ khiến cho mình thêm hèn nhát vì vậy tôi nghĩ rằng tôi phải viết và phải nói ra nó. Mấy ngày gần đây, khi mà cả nước đang xôn xao lên về vụ giàn khoan HD981 của Trung Quốc tại vùng biển Việt Nam cũng như một số các cuộc biểu tình đã diễn ra để phản đối hành động của Trung Quốc. Một số người đã hỏi tôi về vấn đề này nhưng tôi không đưa ra bất kỳ một ý kiến nào cả, đơn giản vì như lần trước đã phân tích, theo ý kiến cá nhân của tôi, Việt Nam cũng giống như 1 người cần chữa bệnh từ bên trong hơn là bên ngoài, cần phải xem xét các vấn đề nội tại trong xã hội Việt Nam là chính. Những vấn đề này tôi đã đề cập đến trong bài viết kỷ niệm 196 năm ngày sinh của Karl Marx. Chính vì vậy tôi tránh việc làm căng thẳng các vấn đề bên ngoài hay như biển Đông.


Tuy nhiên ngay lúc thời điểm bấy giờ, báo chí liên tục đưa các thông tin về biển Đông cũng như các bình luận của chuyên gia, của các NGOs (*) về Biển Đông cũng như cổ vũ cho biểu tình chống Trung Quốc. Ở một số tờ báo còn đăng các bài viết như thể hiện lòng yêu nước cũng như lớn tiếng dạy dỗ người khác về lòng yêu nước. Lại thêm một số lượng lớn các fan page trên các mạng xã hội hoặc đội ngũ Dư luận viên đông đảo hô hào, chia sẻ thông tin và kêu gọi biểu tình, kêu gọi tảy chay hàng hóa Trung Quốc. Những thức này như kích thích thêm tính tự tôn dân tộc của người Việt Nam lên rất cao. Mỗi người, mỗi ngành nghề lại có những cách chia sẻ thể hiện khác nhau. Thậm chí có một số lều báo còn bám vào những luận điểm như Việt Nam được Mỹ ủng hộ, được quốc tế ủng hộ cần phải kiên quyết. Và chỉ đến khi xảy ra những vụ bạo loạn ở Bình Dương, ở Hà Tĩnh thì lúc này lại thấy các báo chí và các vị trí thức trên mạng quay sang chửi rủa công nhân chúng ta, họ kêu gào là phải bắt các công nhân này, phải bắt những kẻ nổi loạn lại vì họ làm ảnh hưởng đến các nhà đầu tư, làm các doanh nghiệp nước ngoài sẽ không đầu tư vào Việt Nam và làm xấu mặt hình ảnh của Việt Nam. Rồi ngày hôm nay khi mà đã có thông tin đến hàng trăm người bị bắt ở Bình Dương thì các lều báo, các Dư luận viên lại chia sẻ những hình ảnh đó, họ kêu gọi cần có những hình thức trừng phạt đích đáng cho những người bị bắt và họ quy luôn những người đó là những kẻ kích động là những tổ chức phản động giấu mặt đang phá hoại. Một hiện tượng đang diễn ra và khá phổ biến trên các báo mạng và mạng xã hội tại Việt Nam.
Khi xem đến đây tôi bỗng dưng lại nhớ đến một trích đoạn khá nổi tiếng của Karl Marx trong Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản như sau: “Giai cấp vô sản trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Cuộc đấu tranh của họ chống giai cấp tư sản bắt đầu ngay từ lúc họ mới ra đời. Thoạt đầu, cuộc đấu tranh được tiến hành bởi những công nhân riêng lẻ; kế đến, bởi những công nhân cùng một công xưởng; và sau đó, bởi những công nhân cùng một ngành công nghiệp, cùng một địa phương, chống lại người tư sản trực tiếp bóc lột họ. Họ không phải chỉ đả kích vào quan hệ sản xuất tư sản mà còn đánh ngay vào cả công cụ sản xuất nữa; họ phá huỷ hàng ngoại hoá cạnh tranh với họ, đập phá máy móc, đốt các công xưởng và ra sức giành lại địa vị đã mất của người thợ thủ công thời trung cổ….Còn tầng lớp vô sản lưu manh, cái sản phẩm tiêu cực ấy của sự thối rữa của những tầng lớp bên dưới nhất trong xã hội cũ, thì đây đó, có thể được cách mạng vô sản lôi cuốn vào phong trào, nhưng điều kiện sinh hoạt của họ lại khiến họ sẵn sàng bán mình cho những mưu đồ của phe phản động”.

Có những kẻ trí thức lớn tiếng kêu rằng những người công nhân đó là lưu manh, là cặn bã xã hội cần phải trừng trị đích đáng. Nhưng nếu nhìn lại cái phân tích ở trên của Karl Marx thì sao, họ đúng là sự thối rữa của xã hội cũ, họ là vì chính sách cuộc sống cơ cực của mình mà sẽ bị lôi cuốn vào phong trào vô sản, nhưng lại dễ bị bán mình cho phe phản động vì họ thiếu hiểu biết, vì họ quá thiếu thốn, quá khổ sở rồi. Những ai đọc đến đoạn này của Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản mà không nhìn ra được cái bản chất bên trong, cái phân tích sâu sắc của Karl Marx thì không thể thấy được tính nhân đạo của ông, sự phân tích xã hội đúng đến đáng kinh ngạc của ông. Hơn nữa các hình thức đấu tranh của giai cấp vô sản là thế nào, đó là phá hủy hàng hóa cạnh tranh, là đập phá máy móc, là đốt các công xưởng của chính họ vì theo họ đó là nguồn gốc của bóc lột, không ai chỉ cho họ giác ngộ xem họ cần làm gì, và họ nên làm gì và làm thế nào thì họ sẽ đấu tranh một cách tự phát và hệ quả là như chúng ta đã thấy. Nhưng liệu có ai chịu đứng ra để xem vì sao họ lại thế, họ hành động như thế là nguyên nhân từ đâu. Có lẽ không ai khác là K.Marx và F. Egnels, những người thầy đáng kính của giai cấp vô sản có thể giải thích được điều này.

Thứ nhất: cuộc biểu tình biến thành bạo động của công nhân trước hết nó xuất phát từ những mâu thuẫn đã âm ỉ, đã chất chứa, giữa công nhân và những người chủ tại các doanh nghiệp mà đã chất chứa từ rất lâu rồi. Nó giống như ngọn lựa hồng trong đống tro vậy, âm ỉ cháy và chỉ đợi có cơ hội thì bùng phát lên, vì sao lại như vậy, trước hết nó xuất phát từ chính hoàn cảnh cơ cực của công nhân. Chúng ta hãy đến với một số những phân tích của chính Engels trong cuốn Tình cảnh giai cấp công nhân Anh:
“Ở đây, giai cấp công nhân chiếm chừng 78% tổng số cư dân (gần 300.000 người), họ ở những khu phố còn nghèo nàn và ghê tởm hơn cả những hang ổ tồi tệ nhất ở St. Giles và ở Whitechapel, những vùng ngoại ô ở Dublin và những wynds ở Edinburgh. Những khu như thế có rất nhiều ở trung tâm thành phố - ở phía nam Trongate, phía tây Saltmarket, trong khu Calton, sau phố High, v.v.; đó là những ngõ hẹp và những đường ngoắt ngoéo, chằng chịt với nhau, lắt léo không cùng, ở đó cứ vài bước lại gặp những sân hoặc những ngõ cụt, gồm những ngôi nhà cũ kỹ, sắp đổ, những tầng thấp, bí hơi và không có ống nước. Những nhà ấy đúng là chật ních người. Mỗi tầng có ba hoặc bốn gia đình, có khi đến hai chục người, có khi mỗi tầng lại cho thuê làm nhà ngủ trọ, và trong mỗi phòng nhét đến mười lăm, hai mươi người, không thể nói là ở, mà là chồng chất lên nhau. Các khu phố ấy là chỗ nương thân của những kẻ nghèo khổ nhất, trụy lạc nhất, đạo đức đồi bại nhất trong cư dân, và nên xem là chỗ bắt nguồn của những bệnh dịch sốt truyền nhiễm ghê gớm lan tràn ra khắp cả Glasgow…

…Đây cái giới hạn, mức lương tối thiểu, cũng là tương đối: khi trong gia đình mọi người đều đi làm, thì mỗi người có thể kiếm ít đi một chút, và giai cấp tư sản đã tận dụng tối đa cơ hội này: nhờ lao động máy móc, có thể thuê cả phụ nữ và trẻ con vào làm, để hạ thấp tiền lương. Tất nhiên có những gia đình, trong đó không phải ai cũng làm việc được; một gia đình như vậy, sẽ rất khổ, nếu phải làm việc với mức lương tối thiểu, tính cho một gia đình gồm toàn những người có thể làm việc; vì vậy tiền lương được ấn định ở một mức trung bình, với mức này, nhà nào mà mọi người đều đi làm được sẽ sống tương đối khá, còn nhà nào có những người không làm việc được thì sẽ tương đối khổ. Nhưng gặp trường hợp tệ nhất, thì mỗi người lao động đều sẵn sàng từ bỏ chút tiện nghi và văn hoá mà anh ta đã quen thuộc ấy, miễn sao sống được; thà ở một cái chuồng gia súc còn hơn là màn trời chiếu đất; thà quần áo rách rưới còn hơn là không có tí quần áo nào; thà ăn khoai tây còn hơn là chết đói. Với niềm hy vọng ở ngày mai tốt đẹp hơn, họ đành chịu nhận một nửa tiền lương còn hơn là chết đói ở ngoài phố, như bao nhiêu người đã bị tước mất mẩu bánh mì. Cái chút ít ấy, cái "méo mó có hơn không" ấy, chính là tiền lương tối thiểu. Nếu số người lao động nhiều quá mức giai cấp tư sản cần sử dụng, nếu do đó mà qua cuộc cạnh tranh, vẫn còn một số người không tìm được việc làm, thì số ấy cứ việc chết đói; bởi vì nhà tư sản chắc hẳn sẽ không cho họ việc làm, nếu như hắn không kiếm được lợi nhuận từ việc bán sản phẩm lao động đó….

Trong báo cáo về công xưởng, vẫn có đủ chứng cớ nói lên rằng: cả trong những công xưởng và ở những công nhân làm việc 12-13 giờ mỗi ngày, theo qui định trong đạo luật của ngài J. C. Hobhouse, vẫn luôn xuất hiện những chứng bệnh không nặng lắm: sưng mắt cá; yếu và đau ở chân, hông và cột sống; giãn tĩnh mạch; lở loét ở chân tay; toàn thân suy nhược, đặc biệt là vùng bụng; nôn ọe, chán ăn, có khi lại đói cồn cào, khó tiêu; chứng u uất; các bệnh phổi, do bụi và không khí xấu của công xưởng gây ra, v.v. và v.v. Về mặt này, nên chú ý đặc biệt tới những báo cáo ở Glasgow và Manchester. Những bệnh ấy vẫn còn sau khi có đạo luật năm 1833, và đến nay chúng vẫn tiếp tục phá hoại sức khỏe của giai cấp công nhân. Người ta chỉ quan tâm đến việc khoác một cái áo văn minh giả nhân giả nghĩa, lên lòng tham lợi nhuận thô bỉ của giai cấp tư sản; dùng luật pháp để không cho chủ xưởng gây ra những việc tệ hại quá lộ liễu, giúp họ có thêm lí do để lừa bịp và tự mãn về cái chủ nghĩa nhân đạo giả dối của họ, thế thôi. Nếu ngày nay lại cử một tiểu ban mới để điều tra về công xưởng, thì họ sẽ thấy tình hình phần lớn vẫn như xưa. Còn việc phổ cập giáo dục, mà đạo luật đề ra nhưng không có chuẩn bị trước, thì chưa có tác dụng, vì chính phủ không đồng thời nghĩ cách xây dựng những trường tốt. Các chủ xưởng thuê vài công nhân mất năng lực lao động làm giáo viên, trông coi lũ trẻ hai giờ mỗi ngày, cho rằng thế là đúng theo pháp luật; nhưng bọn trẻ không học được gì. Ngay cả những báo cáo của các thanh tra công xưởng, dù chỉ hạn chế ở mức thi hành phận sự, tức là kiểm tra xem chủ xưởng có tuân theo đạo luật về công xưởng hay không; cũng đưa ra đủ tài liệu để chứng tỏ rằng, những điều tệ hại nói trên vẫn tiếp tục tồn tại, như một tất yếu. Các thanh tra Horner và Saunders, trong những báo cáo tháng Mười và tháng Chạp 1843 của họ, nói rằng: trong các ngành không dùng trẻ em hoặc có thể thay chúng bằng người lớn thất nghiệp, nhiều chủ xưởng vẫn bắt công nhân làm mỗi ngày 14-16 giờ, và hơn nữa. Trong số công nhân của các ngành ấy, có rất nhiều người chỉ vừa mới vượt quá tuổi được pháp luật bảo hộ. Nhiều chủ xưởng khác cố ý phạm luật: họ rút ngắn giờ nghỉ, bắt trẻ em làm việc quá thời gian pháp luật cho phép, sẵn sàng ra tòa chịu phạt, vì tiền phạt chẳng đáng là bao so với món lợi mà họ thu được từ việc phạm luật đó. Nhất là hiện tại, khi đang kinh doanh rất tốt, thì chủ xưởng càng bị cám dỗ mạnh.”

Đọc những đoạn trích trên, liệu bạn nghĩ rằng những gì Engels viết có lẽ là những gì xa xôi chăng, là những thứ xưa cũ chăng, vậy tôi xin bảo bạn sai rồi. Bạn có bao giờ thử vào thăm 1 nhà máy sản xuất điện thoại Sam Sung xem, công nhân lao động từ 12h cho đến 14h một ngày và thông thường họ chỉ được nghỉ 15 phút ca sáng, 15 phút ca chiều và 1 tiếng vào buổi trưa để ăn. Với một thời gian lao động và cường độ lao động như vậy nhưng công nhân Việt Nam chỉ lĩnh khoảng tiền lương từ 3 đến 3,5 triệu VNĐ/tháng. Một con số mà họ phải ăn tiêu vô cùng tiết kiệm mới có thể đủ sống và có chút tiền dành để cho gia đình. Công nhân Việt Nam cũng phải sống trong những khu nhà thiếu thốn, những khu trọ cho thuê mà đời sống sinh hoạt rất thấp.

Tôi có một anh bạn từng làm trong công ty xây dựng của Hàn Quốc nhưng thường phải sống trọ với điều kiện thiếu thốn, trong khi đó lại thường xuyên làm việc từ 7h sáng đến 9h tối kèm theo việc cúp lương, hoặc nợ lương là diễn ra thường xuyên. Không chỉ Sam Sung mà bạn đến bất kỳ một khu công nghiệp nước ngoài nào thì tình cảnh cũng gần giống như thế mà không khác nhau là mấy. Một cuộc điều tra thống kê tại Việt Nam và được đưa lên kênh thông tin tài chính của VTV đã cho thấy số doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội nhiều nhất ở Việt Nam lại là các doanh nghiệp FDI, số doanh nghiệp trốn thuế nhiều nhất cũng là doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp có mức lương trung bình thấp nhất của Việt Nam cũng là FDI.

Nhiều người cho rằng làm trong doanh nghiệp nước ngoài thì lương cao, nhưng đó chỉ là bộ phận văn phòng, còn nếu là làm công nhân thì sẽ không có mức đó, và để tính mức lương trung bình trong từng khu vực thì họ sẽ tính tổng quỹ lương chia cho tổng số người lao động. Qua đó ta có thể thấy rằng thực sự đời sống công nhân Việt Nam đặc biệt làm trong các doanh nghiệp FDI hoàn toàn không hề dễ dàng tý nào, nếu không muốn nói là khổ cực, chưa kể việc tăng ca, tăng giờ làm và nợ lương là thường xuyên. Điều kiện vật chất như vậy nên đã là nguyên nhân chính dẫn đến tồn tại những mâu thuẫn giữa công nhân và các chủ doanh nghiệp.


Thứ hai: việc nổi loạn của công nhân tại các khu công nghiệp thuộc Bình Dương và Hà Tĩnh cũng xuất phát từ việc báo chí, và mạng xã hội liên tục tuyên truyền chống Trung Quốc. Đây là điều chắc chắn, bất kỳ báo mạng nào của Việt Nam mà không có những bài viết về Trung Quốc và biển đảo, ở đây tôi không bàn đến các vấn đề chính trị mà chỉ nói đến tuyên truyền. Bạn lật thử một trang báo mạng hay các diễn đàn trên mạng xã hội thử xem, đâu đâu cũng có Trung Quốc và 90% các tin này sẽ là: xã hội Trung Quốc vô cảm – hàng hóa Trung Quốc độc hại – thương lái Trung Quốc lừa Việt Nam – Trung Quốc chiếm biển đảo Việt Nam. 90% các tin đưa về Trung Quốc đều chỉ là những thông tin xấu, trong khi đó gần như Việt Nam không nhìn thấy Trung Quốc 1 điểm tốt nào, có chăng cùng lắm là các phát biểu của Trung Quốc trên trường quốc tế. Hệ thống tuyên truyền này nối từ năm này qua năm khác, kéo dài liên tục hàng ngày hàng tháng nó đã làm gì, đã in sâu vào trong tư tưởng người dân Việt Nam rằng Trung Quốc là xấu xa, là mọi rợ, là dân tộc bất lương, đểu giả nhất trên thế giới. Hãy hỏi người Việt Nam xem, cứ nói đến người Trung Quốc là họ sẽ nghĩ ngay đến đó là người bá quyền, là người đểu giả, là lừa đảo, nó in hằn vào tâm trí người Việt Nam. Đã yêu thì yêu cả đường đi, nhưng ghét thì ghét cả tông ti họ hàng vì thế tâm lý bài Trung Quốc đã trở thành truyền thống của Việt Nam.

Nhưng trong khi đó các báo mạng của Việt Nam thì sao, tuyên truyền hộ rằng Mỹ là quốc gia tốt đẹp, là thiên đường của hạ giới, là quốc gia của chính nghĩa trên thế giới, vì thế khi Mỹ ủng hộ Việt Nam thì tức là Việt Nam cứ yên tâm mà chống Trung Quốc, có Mỹ đằng sau. Sự tuyên truyền này cũng kéo dài quanh năm suốt tháng và nó đã kích động lên làn sóng biểu tình, bạo động chống Trung Quốc. Giờ trong tâm lý của người Việt Nam đã được nhồi nhét một tư tưởng đó là bài Trung Quốc và sùng bái Mỹ. Cũng đúng thôi những thông tin như thế thường là rất nhiều người xem, mà nhiều người xem thì đồng nghĩa tăng lợi nhuận cho báo mạng, vì vậy họ càng phải đưa tin, đưa thật nhiều và cũng không cần kiểm chứng nguồn thông tin. Cái họ quan tâm là tiền, là lợi nhuận vì vậy họ phải đưa tin như vậy. Trong khi đó ở Việt Nam cũng có đông đảo một đội ngũ các vị tự nhận là dư luận viên trên mạng và họ tự tuyên truyền cái chủ nghĩa bài Trung Quốc trên mạng, họ có thể là già có, trẻ có, trung niên đều có, họ nêu cao ngọn cờ ủng hộ cái biểu tình chống Trung Quốc, dù họ phản đối các hành động của Việt Tân, của phản động, của nhóm No-U nhưng họ cũng vẫn hành động như vậy. Họ cho rằng đấy là cách khẩu hiểu thể hiện lòng yêu nước của họ, là họ cho đó là yêu nước. Xin thưa là vâng cách vị có cách thể hiện lòng yêu nước của các vị thì người công nhân, nông dân cũng có cách thể hiện lòng yêu nước của họ, đó là bãi công, là đập phá máy móc.

Từ hai nguyên nhân trên thì cái gì đến cuối cùng cũng phải đến, người công nhân ở các khu công nghiệp đã vùng lên, họ biểu tình, họ đập phá nhà máy, họ cướp các tài sản, đừng trách họ vì họ là vô sản, họ không được dạy học đến nơi đến chốn và họ chỉ hành động theo cảm tính và họ nghĩ đó là hành động biểu hiện yêu nước. Họ có phân biệt được Trung Quốc và các nước Đông Á khác đâu, họ chỉ biết họ đang bị bóc lột thậm tệ ở các doanh nghiệp đó. Họ thấy rằng ông chủ ở đó là da vàng tóc đen, là viết chữ toàn hình vuông thì hình tròn thì đều là Trung Quốc hết, họ quy tất cả người Nhật Bản, người Đài Loan, người Hàn Quốc, người Singapore đều là Trung Quốc hết. Họ thấy rằng họ đã bị bóc lột, mà dân tộc đó lại còn đang chiếm biển đảo của họ, vì vậy họ phải vùng lên đấu tranh, họ phải cướp lại những gì thuộc về họ, về người Việt Nam.

Không những thế cái chủ nghĩa dân tộc lên cao đến mức người vô sản phân biệt dân tộc đến mức kỳ thị, họ đánh cả những người vô sản khác đến từ Trung Quốc, những người công nhân cùng khổ như họ nhưng phải tha phương cầu thực vì miếng cơm manh áo. Sự kỳ thị trỗi dậy đến khủng khiếp với một tâm lý dân tộc cực đoan, họ tấn công chính những người cũng ở cùng hoàn cảnh như họ. Và rồi kết quả sau cùng người công nhân được gì: những thành quả lao động bao năm của họ bị mất, việc làm bị mất, tiền lương không được trả và đời sống bấp bênh lại càng bấp bênh hơn, họ đứng trước nguy nghèo đói và thất nghiệp, những lưỡi dao đang kề cổ họ. Họ bị lều báo, bị dư luận viên (**) trì triết bảo rằng họ là loại phá hoại đất nước, là loại cần phải đi tù là loại phá hoại ổn định xã hội và làm xấu mặt hình tượng quốc gia. Vâng vậy tôi đặt câu hỏi là sao các lều báo, các dư luận viên không hướng dẫn họ kỹ trước khi họ biểu tình đi, các vị có học thức cơ mà, có trí tuệ cơ mà sao không giúp đỡ họ hiểu đi, chỉ đến khi họ xảy ra chuyện rồi thì các vị lại quay sang để nói xấu họ, để nhục mạ người công nhân.

Hiện tượng này làm tôi nhớ đến những gì K. Marx từng viết trong cuốn Cách Mạng và phản Cách Mạng ở Đức là vô cùng đúng về cái gọi là tầng lớp trí thức tiểu tư sản này: “Giai cấp tiểu tư sản, vĩ đại về mặt khoe khoang, lại rất không có khả năng hành động và lẩn tránh một cách nhút nhát khi cần phải làm một cái gì nguy hiểm. Tính chất nhỏ nhen của những việc giao dịch buôn bán và những hoạt động tín dụng của nó đã ảnh hưởng sâu sắc tới tính cách riêng của nó khiến cho tính cách này mang dấu ấn của sự thiếu nghị lực và thiếu tinh thần tháo vát, vì vậy phải thấy trước rằng hoạt động chính trị của nó sẽ mang những đặc điểm ấy. Nên trên thực tế, giai cấp tiểu tư sản đã khuyến khích cuộc khởi nghĩa bằng những lời lẽ trống rỗng và những lời huênh hoang về những điều nó quyết định làm; khi hoàn toàn trái với ý muốn của nó, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, thì nó vội đoạt lấy chính quyền; nhưng nó chỉ sử dụng chính quyền đó để thủ tiêu những kết quả của khởi nghĩa. ở bất cứ nơi nào mà một cuộc xung đột vũ trang đã đưa tình hình đến một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng thì bọn tiểu tư sản đều khiếp sợ tình hình nguy hiểm đối với chúng; khiếp sợ thấy dân chúng coi trọng những lời kêu gọi chiến đấu huênh hoang của chúng, khiếp sợ thấy chính quyền rơi vào chính tay mình; và khiếp sợ nhất trước những hậu quả của chính sách mà chúng buộc phải thi hành, - những hậu quả sẽ đem lại không những cho bản thân chúng, mà còn cho địa vị xã hội và cho tài sản của chúng. Há chẳng phải là người ta đang chờ chúng thực sự hy sinh "tính mạng và tài sản", như chúng thường quen nói, cho sự nghiệp khởi nghĩa đó sao? Há chẳng phải là chúng đã bị bắt buộc phải giữ những chức vụ chính thức trong cuộc khởi nghĩa, khiến cho chúng sẽ gặp phải mối nguy mất cơ nghiệp khi khởi nghĩa thất bại, đó sao?”.

Tôi xin nói thẳng nếu có chiến tranh xảy ra thì những kẻ trí thức tiểu tư sản đó cũng sẽ lại là những kẻ nằm sấp hô xung phong, còn ai lên đường chiến đấu, là quân đội, là binh lính, là những người mà tầng lớp xuất thân của họ là từ giai cấp vô sản, từ công nhân và nông dân mà ra. Còn khi xảy ra hậu quả thì sao, vâng giai cấp tiểu tư sản lo sợ về những thiệt hại mà giai cấp vô sản gây ra, họ lo lắng rằng nhà đầu tư nước ngoài không đến Việt Nam, họ lo sợ đời sống sẽ bị sụt giảm, hình ảnh đất nước bị xấu đi vì người vô sản nên họ quay sang quy kết tội cho người vô sản và tổ chức phản động. Nhưng nói thật tổ chức phản động nó chỉ làm một cái công việc là đổ thêm giọt nước tràn ly thôi, còn việc làm đầy cái ly là do những lều báo, những dư luận viên đã làm trước đó. Người công nhân và giai cấp vô sản chỉ là hệ quả của cái việc tuyên truyền đó thôi và giờ đây họ đang phải chịu cái gọi là búa rìu dư luận.

Nhưng cuối cùng nghĩ cho kỹ mà xem, cái áo tôi đang mặc do ai làm ra, là do công nhân làm ra, bát cơm tôi ăn là do ai làm ra, là do nông dân làm ra. Dụng cụ tôi dùng đều do công nhân – nông dân hay là do giai cấp vô sản (***) làm ra trong đó có công sức lao động, có máu và nước mắt của chính giai cấp vô sản kết tinh trong những hàng hóa mà tôi dùng hàng ngày, tôi chưa làm gì đóng góp được cho họ, chưa giúp họ cải thiện được đời sống, tôi phải thấy xấu hố vì chính bản thân mình. Nhưng ngày hôm nay nhìn vào hoàn cảnh của giai cấp vô sản Việt Nam, những gì họ đang phải hứng chịu từ nguyên nhân của báo chí, của dư luận viên mà cảm thấy đau xót, những lều báo, những dư luận viên đang làm cái việc là phản cách mạng, làm hại đến chính giai cấp vô sản. Nhìn những người công nhân Việt Nam đau đớn vì mất việc, vì bị bắt bớ, bị tạm giam cùng với những sự kỳ thị, sự trì triết của xã hội dành cho họ mà cảm thấy đau đớn. Nhìn thấy công nhân Việt Nam đánh nhau công nhân Trung Quốc mà tự hỏi Marx đã bảo vô sản ở đâu cũng là anh em, là phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng xã hội tốt đẹp mà tại sao cùng là vô sản lại bị kích động làm hại lẫn nhau. Cùng là những con người nghèo khó của xã hội mà tại sao lại cùng bị như vậy, công nhân Việt Nam bị kỳ thị, công nhân Trung Quốc cũng bị kỳ thị, hai bên cùng bị bóc lột, bị bần cùng hóa vậy thì tại sao lại đánh nhau, công nhân Trung Quốc và công nhân Việt Nam không có tội, họ chỉ là những nạn nhân của cái tuyên truyền của lều báo và dư luận viên. Nghĩ đến đây không khỏi đau xót rớt nước mắt cho chính giai cấp vô sản, vậy đến khi nào giai cấp vô sản mới có thể ngẩng mặt lên được với đất nước, với xã hội. Tôi chẳng có quyền gì, cũng chẳng đại diện cho trí thức tiểu tư sản gì ở đây, nhưng tôi vẫn muốn gửi đến những người công nhân, những con người của giai cấp vô sản lời xin lỗi chân thành vì những hậu quả đã gây ra cho chính giai cấp vô sản.
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2014
TTCS
(Tác giả gửi trực tiếp cho Doi-Mat.vn)

------
Ghi chú của Doi-Mat.vn
(*) NGOs: Các tổ chức phi chính phủ (Non-governmental Organizations)
(**) Tác giả muốn nói đến một hệ thống "dư luận viên" đi theo phong trào mà thiếu tư duy, hiểu biết.
(**) Theo quan điểm của tôi thì giai cấp vô sản không chỉ bao gồm công nhân, nông dân (theo 1 số quan điểm thì nông dân cũng không được coi là giai cấp vô sản mà phải là "bần cố nông" vì người nông dân có tư liệu sản xuất (đất, trâu bò,...) để tự quyết định cuộc sống mình) mà bao gồm toàn bộ lực lượng sản xuất không có khả năng sở hữu, quyền quyết định với tư liệu sản xuất và phải có mối quan hệ phụ thuộc đối với người sở hữu tư liệu sản xuất (tư bản - tư sản). Theo đó một nhân viên văn phòng thì cũng là 1 người vô sản, một người công nhân "cổ cồn trắng" bởi ngoài việc có môi trường làm việc khác với người công nhân áo xanh thì mối quan hệ của anh ta với TLSX và người sở hữu TLSX cũng chẳng khác gì.
[...]

Comments

Ngày 12/02/2014, loạt bài Hoa đào biên viễn của nhà báo Đào Tuấn vừa được đăng trên báo mạng Một thế giới đã bị gỡ xuống chỉ vài tiếng sau đó. Rất nhiều kẻ đã nhân cơ hội này để khoác lên cái mặt nạ tử tế để tru tréo: "Đảng và nhà nước có thể quên, Bộ Chính trị, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ 4T... không muốn nhớ, nhưng người dân không thể nào quên sự hy sinh của các anh". Nguyên nhân của sự việc cũng đã được chúng tôi chứng minh trong bài viết "Chiến tranh biên giới phía bắc 1979: Lều báo tiếp tục đầu độc lịch sử". Theo đó, bài viết của Đào Tuấn đã có những nhận định không đúng sự thật, khẳng định khi Trung Quốc nổ súng tấn công trên toàn tuyến biên giới vào ngày 17/2/1979 thì Việt Nam hoàn toàn bị bất ngờ; trên biên giới không có quân; chỉ có dân quân du kích nhưng có người nhưng không vũ khí... Bên cạnh đó cũng không loại trừ một giả thiết đáng suy ngẫm là bài viết của Đào Tuấn được đăng và tự gỡ bỏ rất nhanh không một lời giải thích từ tòa soạn nhằm mục đích tạo dư luận về việc "Đảng và nhà nước bưng bít chiến tranh biên giới phía Bắc 1979".

Đồng hành cùng với Đào Tuấn, nhà báo Mai Thanh Hải (báo Thanh Niên, vâng, lại là báo Thanh Niên!), cũng đăng trên trang Facebook cá nhân bài "Biên giới phía Bắc 2/1979: Chết chóc, đổ nát trong bất ngờ...". Bài viết có đoạn: “Một Đại tá Biên phòng-Cựu binh 1979 kể: Không thể ngờ là nó đánh mình, cả Đồn Công an Vũ trang chỉ có 2 khẩu AK và 5 khẩu K50 cũ, bắn xa... 25 mét. Anh em thay nhau bắn, cầm cự 30 phút thì hết nhẵn đạn. Phải cõng thương binh-tử sĩ rút trong uất ức...”. Bài này cũng đã được Mai Thanh Hải xóa đi sau vụ việc của Đào Tuấn.


Vậy đây là vụ việc tình cờ hay là sự sắp xếp có chủ ý, có hệ thống?
Mai Thanh Hải (áo xanh) và Đào Tuấn (áo tím)

Mai Thanh Hải từ lâu đã nổi tiếng trong thế giới blog với các bài viết về chủ đề biên giới, hải đảo mang âm hưởng "bài Hoa" một cách nhẹ nhàng, âm thầm với sức mạnh của một làn gió độc. "Độc" không phải bởi vì nó cổ vũ cho tư tưởng chống Trung Quốc vốn không ít thì nhiều vẫn lẩn quất trong máu mỗi người Việt hàng ngàn năm nay, dù rằng điều này có thể trái với đường lối ngoại giao mà nước ta đang theo đuổi. Một chút vắc-xin kháng Tàu không hề gì, thậm chí lại rất tốt cho cơ thể Việt. Nhưng Mai Thanh Hải không dừng ở đó mà lợi dụng điều này để lồng vào các bài viết của mình những thông tin mang tính xuyên tạc lịch sử để âm thầm truyền đi thông điệp chính trị kiểu như "Đảng CSVN không coi trọng lợi ích đất nước, chủ quyền quốc gia, sự an nguy của đồng bào. Đảng đã & đang xa rời vận mệnh dân tộc... xyz!".

Cái luận điệu trên của Đào Tuấn và Mai Thanh Hải thật ra chẳng hề mới mẻ mà đã được Mai Thanh Hải đề cập nhiều lần trên blog của anh ta (http://maithanhhaiddk.blogspot.com - hiện không rõ vì sao đã khóa lại). Lấy ví dụ trong bài "Khiêu khích quân sự tháng 5-2011 và bài học 2-1979", Mai Thanh Hải viết:
Chúng ta đã bị bất ngờ trước cuộc tấn công. Sự chống trả ngăn bước quân xâm lược, ngay những ngày đầu chỉ được thực hiện bằng những Đồn, Trạm, đơn vị Công an Vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng), bộ đội địa phương, dân quân - du kích - tự vệ và cả những người dân, với trang bị thiếu thốn, lạc hậu. Đến khi các đơn vị chủ lực cơ động từ các vùng miền, tỉnh khác về và đặc biệt là cấp tốc hành quân bằng máy bay, tàu hỏa từ miền Nam ra, chiến trường Campuchia về, thì số lượng không nhỏ cơ sở hạ tầng của ta đã bị lính Trung Quốc phá hủy tan nát, hàng vạn người dân bị thiệt hại và hàng triệu người mất nhà cửa, ruộng vườn, phải tay bị tay gậy, bồng bế nhau sơ tán về tuyến sau. Rất nhiều nhiều đơn vị chủ lực cơ động ra "chi viện cho biên giới phía Bắc" đã không kịp... nổ một phát súng, dù là chỉ thiên trên đầu quân bành trướng xâm lược, bởi lý do rất đơn giản: Quân Trung Quốc đã phá xong, giết xong, rút về từ... tám hoánh.

Chúng ta thấy được thông điệp gì từ đoạn viết này của Mai Thanh Hải nếu không phải là: Nhà nước VN đã chẳng có 1 sự chuẩn bị gì để chống lại sự xâm lược của Trung Quốcsự thực thì quân Trung Quốc cũng chỉ sang tàn phá Việt Nam cho sướng tay rồi tự động rút về?
Báo Quân đội nhân dân ngày 15/02/1979

Như sợ người đọc không hiểu rõ thâm ý của mình, Mai Thanh Hải, sau khi kể lể về một số hành động khiêu khích của lính Trung Quốc tại biên giới mà cao trào là việc gây ra cái chết của liệt sỹ Nguyễn Đình Chinh, đã kể cả phán rằng: "Trước những hành động khiêu khích như vậy, rất nhiều người đoán chắc sẽ có xung đột - chiến tranh, thế nhưng một số người lại không nghĩ vậy và đến khi súng đã nổ rền trên biên giới, người ta mới "à!" vỡ lẽ và cuống cuồng điều quân chủ lực về chi viện cho những Đồn Công an vũ trang chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, ngọn lê cuối cùng, chiến sĩ cuối cùng; những tiểu đội dân quân - du kích tắc bụp bắn lính Trung Quốc đen đặc bằng súng trường K44, tiểu liên K50 từ hồi đánh Pháp...".

Phải chăng ở bài viết 3 năm về trước đã thấp thoáng bóng hình vị "đại tá biên phòng - cựu binh 1979" của bài viết năm 2014!? Việc Việt Nam có bất ngờ hay không trước âm mưu xâm lược của Trung Quốc, và đã chuẩn bị thế nào trước tình huống ngặt nghèo "lưỡng đầu thọ địch" bấy giờ đã được phân tích rõ ràng trong nhiều bài viết với đầy đủ dẫn chứng tư liệu lịch sử như trong một số bài viết: Chiến tranh biên giới phía bắc 1979: Lều báo tiếp tục đầu độc lịch sử hay Gửi Mai Thanh Hải, Đào Tuấn: bất ngờ?
Một số người có thể bào chữa cho Mai Thanh Hải, Đào Tuấn là họ nói về sự "bất ngờ về thời điểm Trung Quốc tấn công" nhưng nào đâu phải vậy?! Ai là "người ta mới "à!" vỡ lẽ và cuống cuồng điều quân chủ lực về chi viện"? Mai Thanh Hải khéo léo đổ vấy trách nhiệm của những hy sinh, mất mát trong cuộc chiến sang vai những người lãnh đạo đất nước, những người đã nỗ lực với bản lĩnh kiên cường và tài năng đã giúp đất nước trụ vững qua thời điểm vô cùng gian khó bấy giờ.
Một toa tầu được hàn chết trên đường ray của cầu Kiều trước 17/02/1979 nhằm mục đích cản hướng tiến quân của Trung Quốc. Nguồn ảnh: Thắng Arch Nguyễn Xuân

Đáng giá về thái độ xấc xược này của Mai Thanh Hải, thật không gì rõ ràng hơn nhận xét dưới đây của blogger Lê Vũ, một cựu chiến binh chiến trường K, nhân chứng của thời lịch sử "Lụt bắc lụt nam. Máu đầm biên giới / Tay chống trời. Tay giữ nước. Căng gân...":
Đ. biết hồi 78 - 79, MTH ở đâu, làm gì.. nhưng y tán phét tựa binh nhì bình đại tướng, chê tư lệnh, dè sư trưởng.. Chiến dịch CPC bắt đầu từ 12/1978 không là chiến thắng dễ dàng ("chẻ tre" như lắm kẻ nổ). Sức đề kháng chống trả điên cuồng quyết liệt của Polpot khiến ta phải đưa lực lượng dự bị chiến lược cuối cùng xung trận. QĐ 2, 3, 4 cùng 7 sư của QK 5, 7, 9 đánh ròng rã cả tháng trời, có lúc địch phản công quật ngược hàng chục km. Nguyên tắc chiến trường: Tương quan lực lượng tối thiểu tấn công/phòng ngự là 3/1, như vậy, để đánh tan 19 sư Polpot cần phải có 60 sư thì QĐNDVN đã lập nên kỳ tích quân sự khi chỉ với 19 sư (kể cả 3 sư tăng cường) mà hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đến nỗi phương Tây sững sờ kinh ngạc. Cả miền Bắc mênh mông chỉ còn QĐ 1 căng ra bảo vệ (chủ yếu là Hà Nội, Hải Phòng & các mục tiêu chiến lược). Mai Thanh Hải là cái thá gì mà dám nỏ mồm phê TW chủ quan? Chê quân đội bị bất ngờ trước âm mưu "Dạy cho VN 1 bài học" của Đặng Tiểu Bình? Nếu bị bất ngờ thì Hà Nội đã rơi vào tay Trung Quốc ngày 27/02/1979 (theo kế hoạch tác chiến của chúng). 25.000 bộ đội địa phương, dân quân tự vệ & công an vũ trang đã giăng sẵn thế trận chiến tranh nhân dân tại chỗ kìm bước tiến, tiêu hao tiêu diệt phần lớn binh lực địch khi chúng vượt khỏi biên giới 17 km. Tất cả nằm trong sự tính toán sắp xếp chu đáo, cẩn trọng kín kẽ & với trách nhiệm cao nhất của BCHTW Đảng, BCT & quân ủy TW (sau này khi là sĩ quan trung cấp được làm trợ lí tham mưu cho cấp tướng tôi mới nhận biết 1 phần nhỏ về tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo, càng tìm tòi học hỏi càng khâm phục trí tuệ cực kì sáng suốt, khôn ngoan, táo bạo & chu toàn của những bậc cầm cân nảy mực). Mai Thanh Hải muốn lấy lòng đám nhẹ dạ cả tin hay vỗ về ve vuốt lũ Vichoco đang thèm khát những lời chửi rủa Đảng CSVN hèn hạ, bạc nhược, ngu dốt?
Nếu gặp Mai Thanh Hải ngoài đời chắc tôi vả nó rớt răng. Lính 303 khi hấp hối còn trối: "Thủ trưởng ơi, chúng ta chỉ đi tăng cường 3 ngày thôi đấy nhé, mục tiêu của sư mình là bảo vệ Hoàng Liên Sơn phải không ạ?" Sư 303 hành quân đường hàng không bổ sung cho hướng tấn công Đông Bắc, chỉ sau 1 tuần, họ hy sinh > 3.000 người. Hầu hết là dân Hà Nam Ninh. f303 là sư đoàn dự bị cuối cùng của ta thời điểm đó.
Xuyên tạc lịch sử chưa hết, Mai Thanh Hải còn xuyên tạc cả hiện tại, điều mà bất kỳ học sinh phổ thông nghiêm túc nào cũng biết là không đúng: "Hôm nay, cho dù một số người cầm quyền đã ký Hiệp định không nhắc lại sự kiện 17-2-1979 cùng quãng thời gian 10 năm sau đó, ròng rã bảo vệ biên giới Tổ quốc; người ta cũng "tế nhị" không ghi lại trong sách Lịch sử trong các cấp học dạy học sinh và cũng muốn lãng quên quá khứ máu xương - nước mắt cả chục năm liền trên biên cương...". Cái luận điệu không lừa nổi con nít này cho đến tận bây giờ vẫn được người khả kính như thiếu tướng Lê Văn Cương và ông nghị kiêm "nhà sử học" Dương Trung Quốc hùng hồn tuyên bố trên mặt báo(!).

Với cái mớ kiến thức lịch sử nhìn bằng lăng kính xuyên tạc ấy, Mai Thanh Hải không ngần ngại thể hiện sự "trẻ trâu" của mình khi bình luận về tình hình thời sự trên biển Đông thời điểm bấy giờ (2011) như sau:
"Tháng 5/2011, hành động khiêu khích quân sự của Trung Quốc lại được tái diễn bằng việc 3 tàu tuần tra biển Trung Quốc phăm phăm chạy vào sâu trong lãnh hải Việt Nam 84 hải lý để uy hiếp, tấn công tàu địa chấn Bình Minh 02 của Tạp đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) ngay trên vùng biển Phú Yên - Khánh Hòa suốt 4 tiếng đồng hồ. Điều lạ ở đây là suốt thời gian tàu Bình Minh 02 và 4 tàu bảo vệ phải chơi trò "đâm, ủi" giằng co với các tàu Trung Quốc hiện đại trên biển, trong phía bờ không có bất cứ hành động trợ giúp, cứu viện nào, cho dù Quân cảng Cam Ranh (nơi đậu đỗ của các tàu chiến đấu hiện đại nhất thuộc Quân chủng Hải Quân) và sân bay Thành Chơn (hay còn gọi là căn cứ không quân Phan Rang, nơi lúc nào cũng sẵn sàng cất cánh những biên đội máy bay chiến đấu SU30 bảo vệ Trường Sa), nằm gần ngay đó, với tổng thời gian ra tới nơi, chắc chỉ khoảng 15-20 phút".
Cũng giống như cuối năm 1978, khi hành động khiêu khích của Trung Quốc xảy ra, quá mức chịu đựng, hệ thống các cơ quan truyền thông lại có dịp lên tiếng xả láng, phản đối (điều mà lâu lắm rồi mới được phép, từ sau sự kiện 14/3/1988) và cũng ý chang cuối năm 1978, những phát ngôn của Nhà nước mới dừng ở cấp Bộ Ngoại giao, chưa thấy cấp cao hơn tỏ bày, động đậy...

Cuộc chiến tranh biên giới 1979 kéo dài trong cả chục năm, với không biết máu xương đã đổ xuống, cũng có 1 phần lý do bất ngờ, chủ quan không lường trước mưu đồ của kẻ xâm lấn. Thế nhưng sau hơn 32 năm, chẳng lẽ cái bài học xương máu, cực kỳ quan trọng với mỗi chính thể, lại không rút ra được?..


Là một nhà báo, lại thường xuyên được tiếp xúc với những người lính biển, vậy mà Mai Thanh Hải lại có thể có những phát ngôn không thể ấu trĩ hơn về vấn đề ngoại giao và thông lệ giải quyết mâu thuẫn quốc tế như vậy. Kêu gào đòi đẩy cao đối đầu, leo thang nguy cơ chiến tranh không phải là mong muốn của bất cứ người Việt Nam chân chính nào mà đó là giọng điệu của những kẻ mong muốn phá hoại đất nước, phá hoại sự bình yên của nhân dân vì lợi ích của các thế lực bên ngoài. Thôi thì tôi lại mượn lời của blogger Lê Vũ để gửi đến Mai Thanh Hải và những kẻ tương tự lời nhắn nhủ như sau:
Ngẫm nghĩ thấy vui buồn lẫn lộn, tâm tư nặng trĩu vì 1 số người quá mơ hồ, nông cạn, hời hợt trước những thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc của bọn phản động & lũ cơ hội (như Mai Thanh Hải). Bạn tôi bảo: "Su 30 chỉ cần 17' bay là nhấn chìm mấy chiếc tàu hải giám Trung Quốc, bộ đội tên lửa đã đặt ngón tay lên nút bắn sẵn sàng khai hỏa nếu tàu Trung Quốc dám lao vào hoặc bắn ta. Nhưng cố nhịn được chút nào tốt chút nấy, vũ lực giáng trả là cần thiết nhưng chỉ là lựa chọn cuối cùng.."

Những người lính căng mắt trên màn hình ra đa, mặc sẵn bộ đồ bay, phơi mình trên trận địa tên lửa, túc trực trên tàu phóng ngư lôi trong mấy ngày qua hẳn sẽ buồn lòng khi biết có những người là đồng bào mà mắng chửi họ: "Quân đội VN chả thấy động tĩnh gì, chắc sợ bọn Tàu khựa xón đái..". Rất có thể những kẻ ăn nói hồ đồ ấy là đám bụi đời đi dạt, tối ngày vật vờ lang thang trên net hoặc lũ háo danh mượn sự kiện này để tự đánh bóng tên tuổi/hình ảnh cá nhân hoặc những kẻ hoài nghi bất mãn nhân cơ hội này chửi Đảng & CP. Chắc chắn, nếu Tổ Quốc nguy biến sẽ không bao giờ có mặt những kẻ như vậy trong hàng ngũ bảo vệ đất nước, họ sẽ luồn lủi tránh né chui rúc vào 1 xó xỉnh nào đó để tiếp tục rủa sả những người lính ngoài mặt trận, chê bai lãnh đạo nọ kia.

Mong các bạn trẻ tỉnh táo sáng suốt trước những lời lẽ ồn ào trên mạng, hãy cố gắng học tập, tu dưỡng, rèn luyện thật tốt để cống hiến tài trí, nhiệt huyết & sinh mạng cho Tổ Quốc sau này.

Mai Thanh Hải có được cuộc sống yên bình, được học hành tử tế trong những ngày tháng gian khó đó (Tháng 2-1979: 8 tuổi, học lớp 2. Tháng 3-1988: học lớp 11) là nhờ biết bao xương máu của người lính và nỗ lực giữ gìn độc lập, hòa bình, tự chủ cho đất nước của các thế hệ lãnh đạo Đảng và Nhà nước bấy giờ. Ấy vậy mà, với cái giọng điệu "binh nhì bình tướng", Mai Thanh Hải xấc xược phán rằng:
"Bảo vệ đất nước, không chỉ đơn giản là chuyện gọi điện mời báo chí đến họp, phát biểu mấy câu vô hồn như máy khâu chạy lạch xạch quen thuộc, chiếm mấy phút thời lượng trên Truyền hình Quốc gia phản đối, yêu cầu này khác; Bảo vệ đất nước, càng không thể là thi thoảng gặp gỡ - hội đàm cấp này khác và tranh thủ "gài" chuyện chủ quyền lãnh thổ để đối tác "lưu ý giúp đỡ"; Bảo vệ đất nước, lại không thể chơi trò "nói như rồng leo, làm như mèo mửa": Tuyên bố trên Báo đài, trước Hội trường, Cử tri thì hùng hồn, nhưng khi xảy ra sự việc thì im thin thít, thậm chí không thấy có mặt trên bản tin VTV, như thường lệ; bảo vệ đất nước, tuyệt đối không thể bịt mồm người khác muốn sát cánh hô câu "Bảo vệ đất nước"..."
Bảo vệ đất nước, điều đầu tiên là phải tâm niệm "đất nước phải được bảo vệ", giữ gìn uy danh, phát huy truyền thống quật cường vốn có và phát huy, khơi gợi tinh thần dân tộc trong mỗi công dân. Bảo vệ đất nước - Việc này càng quan trọng hơn khi tư thế của người bảo vệ hiên ngang, ngẩng đầu chứ không dúm dó, sợ sệt và chấp nhận "Trạng chết, Chúa cũng băng hà"...
.

Nghe thì rất hay, rất hùng hồn nhưng là cái hùng hồn của những kẻ ngu muội hoặc âm mưu kích động những kẻ ngu muội lao đầu vào tường. Nó chẳng khác gì những trò lên gân lên cốt, nhồi sọ của đám khủng bố lợi dụng tôn giáo để đẩy những kẻ u mê vào cảnh "lưỡng bại câu thương" với thường dân nước kẻ thù. Vậy mà, đáng lo ngại thay, những câu chữ đó lại được phát ra từ những "nhà báo quốc doanh". Và còn đáng lo ngại hơn nữa là những trò xuyên tạc lịch sử, kích động hằn thù dân tộc mới hôm nào còn dật dờ trên các trang blog, diễn đàn chống phá chế độ thì ngày nay, chúng đã chễm chệ ngoi lên mặt "báo Đảng", dưới nhiều hình thức, như loạt bài về Hoàng Sa mới đây và về chiến tranh biên giới phía Bắc hiện nay.

Vậy, xin nhắc lại câu hỏi "đây là vụ việc tình cờ hay là sự sắp xếp có chủ ý, có hệ thống?" để các bạn cùng suy ngẫm.

Hưởng ứng câu khẩu hiệu "ngu muội một cách hùng hồn" của Mai Thanh Hải, "Bảo vệ đất nước", với tôi, điều đầu tiên là vạch mặt những kẻ phá hoại đất nước âm thầm bằng những trò xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng CSVN trong quá khứ và hiện tại, kích động hằn thù dân tộc và ru ngủ nhân dân bằng thứ thuốc phiện của lũ tâm lý chiến thù địch (diễn biến hòa bình)./.
[...]

Comments

Không biết có đúng hay không nhưng việc truyền thông Việt "bỗng dưng" lấy ngày 17/02 làm ngày kỷ niệm Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 có lẽ cũng phần nào xuất phát từ những trò mèo của đám dân chủ cuội bờ Hồ. Kể cũng lạ, người ta thường chỉ kỷ niệm những ngày chiến thắng, những ngày kết thúc cuộc chiến, như ngày chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa vào mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), ngày chiến thắng Điện Biên Phủ 07/05/1954, ngày giải phóng thủ đô 10/10/1954, ngày giải phóng Sài Gòn 30/04/1975,.. chứ chẳng thấy ai đi "kỷ niệm" ngày mình bị kẻ địch tấn công cả. Trong khi đó, ngày Trung Quốc rút toàn bộ quân khỏi Việt Nam là ngày 18/03/1979, đánh dấu thắng lợi của quân dân ta trong việc đập tan âm mưu bành trướng của Trung Quốc thì trước giờ chẳng thấy "dân chủ cuội" và báo chí hó hé. Có lẽ vì là trò của "cuội" nên nó phải khác người chăng?

Cuộc chiến có thể được coi là chấm dứt sau khi Trung Quốc rút quân về nhưng trên thực tế, xung đột biên giới còn kéo dài suốt 10 năm sau đó. Tiếng súng vẫn tiếp tục vang trên bầu trời biên giới. Máu vẫn tiếp tục chảy. Và "phần cuối của cuộc chiến thì giống như được vặn nhỏ volume lịm dần rồi tắt hẳn năm 1989". Nhưng mọi chuyện chỉ thực sự chấm dứt sau hội nghị Thành Đô (3-4/9/1990) và sau đó là chính thức ra Thông cáo chung, ký kết Hiệp định chính thức quan hệ bình thường hai nước trên cơ sở năm nguyên tắc hòa bình vào 11/1991.
Để phần nào hình dung tình cảnh đất nước bấy giờ trong mắt người dân, người lính bình thường cũng như xúc cảm thực sự của họ khi nhớ về thời gian khó đấy, mời các bạn xem tâm sự dưới đây của tác giả Nguyễn Lê Tâm, một cựu chiến binh thời xung đột trên biên giới phía Bắc.

35 năm ư? Không! 25 năm thôi! - Tác giả: Nguyễn Lê Tâm
Về cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1979, nhân dân ta không hoàn toàn bất ngờ. Trước khi chiến tranh nổ ra chính thức thì cả nước đã căng thẳng khi đài phát thanh thông báo từng ngày về tiến độ tập kết quân đội Trung Quốc. Bao nhiêu sư đoàn, bao nhiêu tăng, bao nhiêu pháo áp sát biên giới? Đủ hết.

Nhiều cán bộ dưới xuôi được điều lên nằm vùng nắm tình hình sát biên. Đài báo suốt ngày. Sinh hoạt đoàn thanh niên lu bù các tinh thần sẵn sàng vì tổ quốc. Các chiến hào phòng thủ được tổ chức đào khắp nơi. Ngay ở Hà Nội thì mọi công tác chuẩn bị đón địch cũng được triển khai. Hầm hào được khôi phục. Những người dân ở các thị xã giáp biên đã chuẩn bị tinh thần sơ tán.

Điều bất ngờ có chăng là mọi người vẫn tin rằng Tàu không đánh mà chỉ rung dọa.

Mình rất nhớ lời thông báo trên đài phát thanh ngày 17 – 2 với giọng đọc nữ truyền cảm đanh thép nêu rõ quân xâm lược đã tràn qua 6 tỉnh biên giới và kêu gọi toàn quân , toàn dân chung một ý chí đẩy lùi sự tàn bạo của kẻ xâm lược. Cũng chỉ không lâu sau lời kêu gọi thì ca khúc “Chiến đấu vì độc lập tự do” của nhạc sĩ Phạm Tuyên mà mọi người thường gọi cái tên khác là “Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới” được phát liên tục. Ca khúc với giai điệu thôi thúc này đã khiến cho cả nước sôi sục. Người Việt Nam đời thường thì lắm cái đáng phàn nàn nhưng khi đất nước gian nguy thì trở nên mạnh mẽ và tươi sáng lạ kỳ. Tinh thần quyết tâm bảo vệ tổ quốc lan tỏa như hồng cầu trong huyết quản hàng triệu dân từ cụ già, thanh niên đến em bé. Khi còn là anh em cùng phe thì người Việt vẫn kỳ thị Trung Quốc mà chỉ mê Liên Xô. Vì thế, đợt này tinh thần càng hăng.

Chiến sự đưa tin hàng ngày về sự ác liệt. Bao giờ cũng có những tấm gương anh dũng diệt thù như Lê Đình Chinh, Hoàng Thị Hồng Chiêm… đến cậu thiếu niên Đàm Văn Đức cũng diệt xe tăng địch. Những hình ảnh xe tăng T 59 (*) của địch bị bắn tung cả tháp pháo khiến dân ta hả dạ. Truyền hình phát đi nhiều hình ảnh các nước, nhiều đoàn biểu tình cả Âu cả Phi cả Á, hô vang khẩu hiệu "Trung Quốc cút khỏi Việt Nam". Có một bài hát ngày xưa chống phát xít mình không rõ tác giả hay là dân ca thì những người bạn năm châu lại phổ lời mới hát với nội dung chống Trung Quốc xâm lược. Không rõ ai đã đặt lời Việt cho bài này và nó đã vang lên hùng tráng ở Việt nam:

Bao nhiêu con tim sững sờ chợt nghe quân cướp đất nước Việt nam,
Xích xe tăng quân Trung Quốc phá tan biết bao xóm quê bình yên.
Hôm nay năm châu tiếp tục bài ca đoàn kết chiến đấu năm xưa,
Cùng Việt Nam đấu tranh giành tự do.

Hãy kết đoàn cùng Việt Nam đấu tranh!
Là bài ca trái tim tháng năm này.
Hãy kết đoàn cùng Việt Nam đấu tranh!
Cùng Việt nam đấu tranh giành tự do!

Tên Goliath coi chừng Việt Nam - David chiến đấu hôm nay,
Chiến tranh hôm nay David có thêm bao nhiêu anh em kề vai.
Theo chân bao quân xâm lược bọn bay phải chết dưới đất thiêng này,
Hãy chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam!

Hãy kết đoàn cùng Việt Nam đấu tranh!
Là bài ca trái tim tháng năm này
Hãy kết đoàn cùng Việt Nam đấu tranh!
Cùng Việt Nam đấu tranh giành tự do!

Xin mời nghe giai điệu ở đây:


Trong lúc đó thì có chú cán bộ chạy thẳng từ biên về Hà Nội. Điều này khiến bà con dị nghị. Mình cũng thấy chối, nhưng bố mình bảo: Con không hiểu gì về chiến tranh. Nếu là bộ đội, du kích thì có vũ khí bám đất mà đánh. Còn cán bộ dưới xuôi lên không tấc sắt trong tay thì phải chạy là dễ hiểu. Không nên bắt tất cả mọi người đều phải anh hùng như trên báo chí. Điều này mình nghĩ mãi, khi trưởng thành mới hiểu.

Nhà mình đón đoàn sơ tán đầu tiên chạy thẳng từ Lạng Sơn về Hà Nội. Đấy là nhà cô Lưu. Gia đình có vài người trong đó có ông cụ Lưu cỡ 75 tuổi. Những người già yếu và trẻ con chạy trước. Thanh niên thì theo tổ đội bám đất bao vây địch.

Ngày xưa, nhà mình sơ tán về nhà anh Mong khi bom Mỹ thả xuống Hà Nội, được gia đình đó rất chăm sóc, nên bây giờ người khác hoạn nạn thì cả nhà mình rất xúc động. Thời này đang đói dài nên có gì ăn nấy.

Đoàn sơ tán thứ hai là nhà cô Nghệ, cũng của Lạng Sơn nhưng ở Hữu Lũng, huyện cuối của tỉnh. Từ biên giới tới Hà Nội chừng 160 cây số. Hữu Lũng ở quãng giữa. Nhà cô cách Mẹt khoảng 10 cây số. Cô Nghệ kịp mang về Hà Nội nhiều đồ đạc và lương thực hơn. Hồi ấy thiếu gạo nhưng có rất nhiều khoai tây. Ăn khoai tây muốn ợ ra.

Khoảng cách thì gần nên ai cũng sẵn sàng chờ địch tại Hà Nội.

Về mặt quân sự mà nói thì Tàu không thể tiến quân nhanh được vì quá nhiều phòng tuyến đào dọc đào ngang đang chờ chúng. Nổi tiếng có phòng tuyến Sông Cầu là nhiều thế hệ thanh niên đã tham gia đào đắp.

Cái không khí đùng đoàng dồn dập khiến trẻ con thì khí thế, người già thì lo âu.

Các cụ bảo:
Con ơi nhớ lấy câu này
Thằng tây nó tếch thằng tàu nó sang.

Các đơn quân đoàn chủ lực chưa ra trận. Nghênh địch chỉ có một số đơn vị bộ đội địa phương và dân quân nhưng rất chắc chắn, kiềm chế địch hiệu quả.
Trong cuộc chẳng ai biết khi nào thì kết thúc. Lởn vởn trong đầu ám ảnh thời gian đằng đẵng các cuộc chiến trước đó.
Đánh Pháp 9 năm,
đánh Mỹ 21 năm,
đánh Pôn Pốt 5 năm (Bắt đầu từ 1975, lính Pôn Pốt đã tấn công một số đảo của Việt Nam, cuộc tấn công qui mô đầu tiên là 1977. Mọi thứ tạm chấm dứt 1979).

Vậy cuộc này kéo dài mấy năm? Một số người lớn đã tính những phương án xấu như nếu phòng tuyến vỡ phải bỏ Hà Nội thì kịch bản tiếp theo là về đâu. Rất căng thẳng.

Khoảng đầu tháng 3, các phương tiện truyền thông công bố, cuộc chiến đấu chống quân xâm lược đã giành thắng lợi. Toàn bộ quân xâm lược đã bị đẩy bật về bên kia biên giới.

Cả nước vui mừng. Gia đình cô Nghệ trở về Hữu Lũng trước, cô Lưu vẫn để ông cụ ở lại. Khi ấy anh Thành, con cả của cô Lưu về Hà Nội để chuẩn bị đưa già đình hôi hương. Anh là một người rắn rỏi râu quai nón. Hỏi anh công việc ở tỉnh thì anh bảo anh và thanh niên ở đó phải bám địa bàn, kiềm chế địch. Sau khi địch rút thì mình vào tiếp quản. Thu dọn các đống đổ nát và dọn xác người. Việc nhận dạng rất khó khăn do xác đã biến dạng. Xác của lính tàu để lâu trương phình lên. Có xác nát bét phân hủy nhiều dòi bọ thì phải lấy xẻng hót. Cũng có khi thiếu xẻng thì phải bốc bằng tay. Thối kinh khủng. Từ câu chuyện của anh tự nhiên cứ thấy cái mùi thối nó ám ảnh vương vấn trên gương mặt tươi tắn của anh Thành.

Nhiều người trẻ nghĩ rằng cuộc chiến chỉ xảy ra ngót một tháng. Nghĩa là từ 17 - 2 tới 5 - 3 mà thôi. Thực ra, cuộc chiến này cao trào nhất là đoạn ấy, nhưng cái phần tiếp theo kéo dài 10 năm tới tận năm 1989 mới khép lại thì ít ai để tâm.

Việc giữ đất ròng rã suốt từ 1979 đến 1989 là nhiều thế hệ nối tiếp nhau cầm súng.

Mỗi năm có ít nhất 2 mùa tuyển quân thì có ít nhất 20 độ tuổi thanh niên phải nhận nhiệm vụ trấn giữ biên ải này. Thời gian đó dài hơn kháng chiến chống Pháp.

Cạnh nhà mình có anh Sự lính giữ biên ở Lào Cai. Cũng được dán chữ thọ mà không chết. Buồn cười nhất là một cậu đồng đội mang thư của anh Sự từ Lào Cai về kể chuyện chiến đấu rất thật thà: "Cháu nói thật với cô chứ bọn cháu khiêng xác thì chọn thằng nào nhẹ khiêng về trước chứ to béo như anh Sự nhà cô là bọn cháu để sau".

Cậu Ba là cậu trẻ nhất bên ngoại nhà mình được thưởng do bắt được thám báo Tàu cũng là quãng thời gian này.

Điểm nóng cao trào khúc giữa của cuộc chiến biên cương rơi vào 1984. Đúng thời gian này mình đi bộ đội. Đơn vị mình là sư đoàn 10, quân đoàn 3 được điều từ Cam Pu Chia về để sẵn sàng đáp ứng tình hình mới. Có nhiều đợt báo động lên biên, nhưng mình cũng may là không đến lượt.

Mùa hè năm ấy, anh Hiên, một người dân thân thiết hỏi: Chú mày sắp lên biên à?

Mình bảo: Em có thấy phổ biến gì đâu.

Anh Hiên bảo: Phát quân trang quân dụng rồi. Rồi đài địch nó nói cho mà xem. Nhiều thằng mang đồ quân dụng ra bán cho dân. Biết ngay.

Tối hôm ấy, mình thấy sáng rực đèn pha ở sân vận động hàng trăm xe chở quân Zin 131. Ngồi trên đồi ngắm xuống, anh Ninh, bác sĩ của đơn vị bảo: Đây là hình ảnh của chiến tranh đấy.

Mình ngắm hàng trăm xe tải đen sì và liên tưởng. Chừng này xe đi là bao nhiêu lính? Trở về được bao nhiêu?

Đoàn xe chuyển bánh lên biên. Y rằng đài địch thông báo ngay đơn vị này đã tiếp ứng cho Vị Xuyên. Nhưng nó chỉ đi 1 vòng rồi trả quân lại chỗ cũ. Té ra đó chỉ là nghi binh gây rối thông tin cho Tàu. Lên biên thật thì âm thầm chứ không trống rong cờ mở thế.

Sau đó có đợt đi thật thì chỉ đi 1 tiểu đoàn, không nhiều lắm, trong đó có Dũng Kều DKZ và Tấn Còm 12 ly 7.

Dũng và Tấn tốt nghiệp đại học rồi nhưng phải cầm súng ngay. Dũng cao lêu nghêu như con sếu chơi Bass khá hay và điềm đạm. Tính cách khiêm nhường của bè trầm. Tấn Còm là một tay ngang tàng, vừa chơi guitar vừa lại sáng tác ca khúc ngon lành. Gã vừa là tay đầu trò văn nghệ vừa vượt trội anh em về năng khiếu tán gái. Hai tay này thường giật giải các cuộc thi văn nghệ của đơn vị. Bây giờ lên chốt có mỗi việc ôm DKZ với 12 ly mà canh Tàu như canh trộm.

Đồng đội Hòa Vịt vốn là thi sĩ ngôi sao của trung đoàn có viết thế này:

Bạn lên đường với cây ghita
Bên khẩu cối, khẩu AK bóng thép
Nơi ấy pháo thù ngày đêm gào thét
Có tiếng hát ấm lòng, điểm tựa vững niềm tin.

Đối mặt quân thù, nơi ấy, Vị Xuyên
Nơi Tổ quốc mang vóc hình Dũng Sỹ
Nơi tuổi trẻ dựng trường thành chiến lũy
Là lòng mình tha thiết bạn bè thân.

Riêng hai "đồng bọn" Dũng Kều và Tấm Còm có câu:

Thằng "Tấn Còm" vừa huơ đàn lên
Thằng "Dũng Kều" cổ tròng giá súng
Cái lưng còng như bỗng còng thêm…
Mày chạy lăng xăng
Tao muốn cười không được…

Tháng 7 năm 1984, những trận đánh nặng nề đã diễn ra tại Vị Xuyên. Con số thương vong với mật độ rất cao. Có đơn vị mất tới 600 người/ngày. Con số này bí mật, chỉ được công bố trên báo thời gian gần đây.

Mỗi tài liệu liệt kê mỗi khác, nhưng chung nhau là rất cao và rất đau. Đất nước kiệt quệ trong tình trạng một phần thanh bình, một phần máu vẫn đổ. Trong 10 năm đó, có nhiều đồng đội ngã xuống; Nhiều đồng đội thương tật; Có thằng Dũng Kều, Tấn Còm may mắn trở về.

Ca khúc "Đất nước" của Phạm Minh Tuấn là hình ảnh thật sự lay động:

Ngăn bước quân thù phía nam phía bắc
Vai mẹ lại gầy gánh gạo nuôi con

Ngoài ca khúc này còn rất nhiều ca khúc hay như: "Chúng con lên đường hình Tổ Quốc trong tim", "Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận", "Những đôi mắt mang hình viên đạn", "Hoa hồng trên điểm tựa", "Hoa sim biên giới", "Bài ca biên giới", "Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt", "Bài ca trên đỉnh Pò Hèn"... Nhiều lắm. Với tôi đó là báu vật.

Phần cuối của cuộc chiến thì giống như được vặn nhỏ volume lịm dần rồi tắt hẳn năm 1989.

Cánh đây vài năm, mình đi du lịch Trung Quốc, lướt xe bus quan Hữu nghị quan, ngắm con người, nhà cửa từ biên giới tới Bằng Tường, Nam Ninh mà lan man nghĩ ngợi. Thời 10 năm ấy, thật khó tin là có ngày lại có thể sang biên dễ dàng đến như vậy. Bây giờ nhiều người đã quên hẳn cuộc chiến ấy. Lại thấy có gì đó bùi ngùi.

Những cuộc chiến khác chúng ta thường kỷ niệm vang khúc khải hoàn cuối cùng như 10 - 10 của đánh Pháp, 30 - 4 của đánh Mỹ. Nhưng cuộc chiến này dường như mọi người chỉ nhớ mỗi thời điểm phát súng đầu tiên. Vì thế, Khi tưởng nhớ cuộc chiến này, chúng ta thường nhắc tới con số 35 năm. Dường như cuộc chiến đã lùi xa 35 năm rồi. Nhưng với 10 năm dai dẳng biên giới với không ít chiến sĩ tiếp tục ngã xuống trên biên giới và trên biển thì cuộc chiến này mới chỉ lùi xa 25 năm thôi. Đừng quên sau 79 vẫn còn tới 9 năm xương máu tiếp tục rơi. Tiếng súng vẫn gần lắm. Điều đó nhắc nhớ hậu thế hãy cẩn trọng hơn trước binh đao có thể đến bất cứ lúc nào.

© Nguyễn Lê Tâm 16 – 2 - 2014

Chú thích của Leubao.vn
(*) Có thể tác giả đã nhầm lẫn với tăng T62, một loại tăng hạng nhẹ giống hệt T59, loại tăng hàng trung ("nhái" T54). Trong chiến tranh biên giới phía Bắc, Trung Quốc đã sử dụng khoảng 200 chiếc T62 và một nửa trong số đó đã bị tiêu diệt.
[...]

Comments

Những cơ sở truyền thông móc mỉa như BBC, RFA, VOA thiếu hiểu biết hoặc giả vờ thiếu hiểu biết thì đã đành, thế nhưng có những người là nhà báo, nhà văn Việt Nam mà cũng rơi vào tình trạng tương tự thì phải đặt câu hỏi về tư cách viết văn, làm báo của họ.

Việc nhà báo Đỗ Hùng, Phó Tổng thư ký tòa soạn báo Thanh Niên cho đăng một loạt bài về Hải chiến Hoàng Sa đã khiến dư luận bức xúc, phản ứng khiến ông này phải tự đóng cửa facebook, trách nhiệm của ông ta trong vụ việc này có được xem xét, xử lý đến đâu, chưa ai rõ. Nay đến ngày 17-2, thêm lần nữa, báo chí Việt Nam lại khiến cho độc giả như lạc vào mê hồn trận hư hư thực thực chẳng biết đâu mà lần. Đáng lẽ ra với một tư cách là nhà báo nhà văn họ phải biết được trách nhiệm trước công luận, pháp luật về bài viết, phát ngôn trên mạng của mình. Nhưng xem ra những ví dụ được nêu ra dưới đây về nhà báo Đào Tuấn, Mạnh Quân, người đọc càng lo lắng hơn cho vận mệnh báo Việt và lo lắng hơn cho cơ quan quản lý báo chí khi nhìn thấy đội hình phóng viên, biên tập các báo lớn ngày càng lởm khởm.


Sự việc nhà báo Đào Tuấn với loạt bài đăng trên báo Một Thế giới mới đăng đàn trên trang cá nhân về việc các bài ông này viết về chiến tranh Việt Trung với lời lẽ hằn học, xúc xiểm, đả kích kiểu như tác giả đang bị ép gỡ các bài báo thì thiết nghĩ với một tư cách nhà báo đem thông tin đến bạn đọc liệu đã xứng tầm hay chưa.

1. Về sự kiện các bài viết trên báo Một Thế giới mới bị gỡ bỏ sau vài tiếng đăng tải, không giải thích lý do được xem là sự thiếu tôn trọng bạn đọc, thiếu trách nhiệm đối với bài viết được chính họ đăng lên. Khi bị các đài BBC, VOA, RFA…lu loa, tung tin báo này bị Ban Tuyên giáo ép gỡ bài, cũng làm lơ, không chịu giải thích, im lặng khó hiểu. Nếu nói các đài báo phương Tây bịa đặt, xuyên tạc, dựng chuyện, thì phải nói rằng Ban biên tập báo trên xứng đáng bị xem là kẻ tiếp tay đầy khó hiểu (?)

"Bà buôn cải" cất lời ca "đâm bị thóc chọc bị gạo" quen thuộc.

2. Tìm hiểu nội dung bài báo trên Một Thế giới mới, tôi phát hiện nhà báo Đào Tuấn viết sai sự thật đại ý rằng khi TQ đánh sang ta thì Việt Nam hoàn toàn bị bất ngờ, trên biên giới không có quân; chỉ có dân quân du kích nhưng có người nhưng ko vũ khí... nhưng sự thật thì lại hoàn toàn khác. Trận chiến này ta không hề bị động, có kế hoạch và chuẩn bị kỹ càng về phương thức, huấn luyện và chỉ đạo thống nhất trong chiến tranh tôi đã có phần tổng hợp ở đây: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1839281242877464&set=a.1649934088478848.35305.100003868198858&type=1&ref=nf

Với lỗi sơ đẳng này, thì đáng lý Ban biên tập, nhà báo trên không thể chỉ rút bài cho xong mà cần phải xem xét nghiêm túc về khả năng, trình độ báo chí, kiến thức lịch sử, nguồn tư liệu sử dụng khi viết báo…

3. Trong bài viết “Hồi ức 35 năm” của tác giả Đào Tuấn viết đăng trên báo Một thế giới mới, có một chi tiết sử dụng những tài liệu Trung Quốc nói rằng vì sao ở Cao Bằng, chiến tranh lại đồng nghĩa với tàn phá như vậy? Bài báo đưa thông tin về trang mạng quân sự milchina.com của Trung Quốc 3 năm trước đã cho đăng thư của một cựu chiến binh Trung Quốc từng tham gia chiến tranh biên giới 1979 phần nào giải thích lý do: "Mục đích của cuộc chiến tranh này là tàn phá, hủy hoại quốc lực của Việt Nam chứ không phải là chiếm lĩnh lãnh thổ, nên sau hai ngày đánh nhau, lính tham chiến bắt đầu chấp hành mệnh lệnh bán chính thức là “không bắt tù binh”, “không để lại cho Việt Nam một lá cây ngọn cỏ”. Cách viết của tác giả Đào Tuấn cho thấy, phải chăng nhà báo cũng đang định hùa theo luận điệu của nhà cầm quyền Trung Quốc rằng không tham lam một tấc đất của Việt Nam? Báo SÀi Gòn Giải phóng có bài đăng ngày 23-3-79 vạch rõ âm mưu Trung Quốc âm mưu hợp thức hóa vùng chiến đóng của ta, cho nên nhà báo Đào Tuấn nên nhớ luận điệu không tham một tấc đất của Việt Nam là luận điệu của nhà cầm quyền xâm lược Trung Quốc nhé.
"Nỗi buồn  Đào Tuấn".

Điều đáng nói ở đây, đáng lẽ những bài báo viết về sự kiện này, người cầm bút truyền tải cho độc giả về dã tâm của kẻ xâm lược, lòng yêu nước, tự tôn, ý chí chống ngoại xâm của đất nước, ghi nhận công lao, chiến tích của những anh hùng đã ngã xuống thì họ lại làm cho đọc giả ngộ độc vì thông tin nhảm nhí, thiếu căn cứ, thiếu nhận thức chính trị và theo đuôi kẻ thù của họ. Nói như nhà báo Thiềm Thừ, xin gửi ông nhà báo Đào Tuấn, viết thế nào chứ viết để mà khơi gợi lòng thù hằn thì thiết nghĩ không nên viết.

Tiếp đến người đọc bức xúc, phẫn nộ với phát biểu trên facebook của nhà báo tự xưng là Mạnh Quân, phóng viên báo Sài Gòm Tiếp thị, Thanh Niên, cho rằng hàng loạt các bài báo viết về Chiến tranh Biên giới bị tuýt còi và lên án chế độ hèn mạt. Không biêt ông nhà báo này thực hư thế nào, nhưng luận điệu ông ta đưa ra đã “cổ vũ”, “xác thực” cho các báo mạng Tây phương tha hồ “xác tín”, bất chấp lời tuyên bố của ông Nguyễn Thế Kỷ, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo TW về không có chỉ thị, giới hạn nào về đề tài này. Thực tế, hàng loạt báo đã đăng bài, có không ít báo viết bài nhìn nhận, bài học về cuộc chiến tranh này với ngôn ngữ đầy khí thế thể hiện sự lên án mạnh mẽ, chứng tỏ không có bất kỳ sự kiềng nể nào với cựu xâm lược này như ông Mạnh Quân nọ hùng hồn tuyên bố.

"Nỗi niềm" Mạnh Quân
Có lẽ chừng nào các cơ quan quản lý báo chí chưa sát sao, buông lỏng vô tội vạ thế này thì những con sâu làm rầu nồi canh như ông Đào Tuấn, Mạnh Quân trên sẽ sinh sôi nảy nở, sẽ chưa thấy được trách nhiệm của người cầm bút với nhân dân, đất nước.
[...]

Comments

Bức ảnh này được chụp tháng 8 năm 1979, khi tôi 17 tuổi 2 tháng, cao chưa tới 160cm, nặng 45 kg. Nếu không có cuộc Chiến tranh biên giới, nổ ra ngày 17/2/1979, tôi đã không “đóng thùng” trong bộ quân phục đó, đã không trở thành một người lính khi còn non choẹt.



Hồi tôi học lớp một, lớp hai, cùng với những bài như “bé bé bằng bông”, “ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”, cô giáo còn dạy chúng tôi hát bài “Việt Nam, Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông, mối tình hữu nghị sáng như biển Đông…”. Sau đó, tôi biết thêm về Trung Quốc qua những bộ phim như “Bạch Mao Nữ”, “Đứng gác dưới ánh đèn nê ông”, qua những cuốn sách như “Thượng Cam Lĩnh”, qua những quyển báo ảnh, lúc đó gọi là họa báo của Trung Quốc, bố tôi mang về. Trong những quyển họa báo rất đẹp bằng tiếng Việt có ảnh các đơn vị quân đội “học tập trước tác của Mao Chủ tịch”, công nhân mỏ dầu Đại Khánh, xã viên công xã Đại Đại, tranh vẽ về cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân (Khăn Vàng)… Đôi khi, kèm theo quyển họa báo còn có đĩa hát bằng nhựa mềm, ghi những “kinh kịch hiện đại cách mạng” như Dùng mưu chiếm Uy Hổ sơn. Thỉnh thoảng, trong nhà tôi có gói lương khô Trung Quốc, có hộp thịt Trung Quốc, kèm theo hộp thịt có cả chiếc kiềng bé xíu và mấy viên cồn khô… Trong ý niệm của tôi khi đó, Trung Quốc là phe mình, cùng với Liên Xô rất thân thiết với Việt Nam, “ông Liên Xô, bà Trung Quốc, ông đi guốc, bà đi giày, ông nhảy dây, bà đá bóng…”.

Thế rồi, tôi thấy trong họa báo Trung Quốc những bức ảnh vũ khí của Liên Xô, mà Trung Quốc thu được trong cuộc xung đột biên giới Trung – Xô. Lên lớp ba, thầy giáo không bảo quản ca bắt nhịp cho lớp hát bài “Việt Nam, Trung Hoa” nữa. Bố tôi có cái radio Standar của Nhật, buổi tối ông thường nghe đài BBC, Hoa Thịnh Đốn, Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh, những gì loáng thoáng nghe được qua các đài đó khiến tôi lờ mờ biết rằng, quan hệ Việt - Trung - Xô không còn khắng khít “Việt Trung Xô, Việt Trung Xô, Xít Ta Mao Trạch Cụ Hồ nghênh ngang” nữa. Đầu năm 1972, tôi thấy bố tôi và mấy ông bạn bàn tán nhiều, vẻ không vui về chuyện Tổng thống Mỹ Nixon được đón tiếp ở Bắc Kinh. Ngày 16/4/1972, máy bay B52 Mỹ rải thảm Hải Phòng, Hà Nội. Tôi và những đứa bạn chưa đầy 10 tuổi phải tự tay đào hào trú ẩn cho mình, sau đó là những ngày sơ tán gian khổ…

Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Gia đình tôi về lại thị xã Hà Đông thân yêu. Một lần nghe đọc bút ký trên Đài Tiếng nói Việt Nam, hình như là chương trình phát thanh Quân đội Nhân dân, trong đó có người hỏi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, sau Hiệp định Paris Việt Nam có còn bị tình trạng chia cắt kéo dài như sau Hiệp định Geneve? Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói, năm 1954 chúng ta muốn giới tuyến tạm thời là vĩ tuyến 13, nhưng cuối cùng đã phải chấp nhận vĩ tuyến 17, bây giờ ta không để họ làm điều ấy nữa. Sau này, tôi biết rằng, chiến dịch mùa xuân 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã được chuẩn bị và thực hiện một cách bí mật với “họ”, là Trung Quốc.

Sau năm 1975, không còn họa báo Trung Quốc, không còn những bộ phim Trung Quốc, bớt dần những lời nựng nhau “môi hở răng lạnh”. Trong khu gia đình Học viện Quân y, tôi nghe các chú các cô – toàn sĩ quan quân đội – nói với nhau về sự lạnh nhạt của Trung Quốc với Việt Nam, chẳng hạn Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi thăm Trung Quốc, được mời cơm ở nhà ăn một đại đội…

Năm 1978, bắt đầu nghe những câu chuyện về “nạn kiều”, người này dặn người kia đừng mua ti vi, tủ lạnh… người Hoa bán rẻ trước khi dắt díu nhau đi, vì nghe nói họ nhỏ a xít vào linh kiện. Cùng với tin chiến sự ở biên giới Việt Nam – Campuchia là thông tin về việc Trung Quốc giật dây “bè lũ diệt chủng Pol Pot, Ieng Xary, Khieu Xamphon” đánh Việt Nam. Ngày 25/8/1978, chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang Lê Đình Chinh hy sinh trong sự kiện cửa khẩu Hữu Nghị. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Lê Đinh Chinh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, phong trào noi gương Lê Đình Chinh được phát động, khắp nơi vang lời hát “chúng tôi là đồng đội của Lê Đình Chinh, nghe đất nước gọi như tiếng gọi của chính mình”. Những từ “bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh”, “nhà cầm quyền Trung Quốc” được dùng với mật độ ngày càng dày đặc trên báo, đài. Từ cuối năm 1978, bắt đầu có những cuộc xung đột vũ trang ở Cao Bằng, Lạng Sơn, có cả những trận đánh ác liệt thật sự, mỗi sự kiện xảy ra ở biên giới đều ngay lập tức được đưa lên báo, lên đài, lên truyền hình. Khi Trung Quốc tấn công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Việt – Trung ngày 17/2/1979, không mấy thấy người bất ngờ. Nhưng bây giờ, có người nói Việt Nam bị bất ngờ về cuộc tiến công đó.

Tối tối, cả nhà tôi quây quanh ti vi, xem tin chiến sự, đặc biệt là mục bình luận của một ông Đại tá, nếu tôi nhớ không nhầm là Đại tá Cao Nham. Các trận đánh ở Bản Phiệt, Mường Khương, Cao Bằng… được tường thuật khá kỹ, có cả bản đồ tác chiến. Lúc đó, tôi đang học lớp 10 trường cấp 3 Nguyễn Huệ, thầy trò đều hừng hực khí thế chống Trung Quốc. Cô Đính dạy toán còn cắt ngắn tiết dạy, hào hứng nói về việc, nếu quân Trung Quốc kéo đến Hà Đông, người già và trẻ nhỏ sẽ đi sơ tán, còn cô trò ta sẽ ở lại chiến đấu bảo vệ thị xã, bảo vệ trường! Tối 4/3/1979, sau khi đưa tin chiến sự, Đài truyền hình Việt Nam đưa cảnh Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch trả lời trong cuộc họp báo. Phóng viên nước ngoài hỏi, Việt Nam có lo lắng không trước việc Trung Quốc đã vào thị xã Lạng Sơn và có thể tiến sâu vào nội địa Việt Nam? Bộ trưởng nói ngắn gọn, các bạn có thể tự có câu trả lời, qua không khí cuộc sống tại Hà Nội, người lớn vẫn đi làm, trẻ em vẫn đi học bình thường.

Lúc đó, tôi đã có dự định thi vào đại học Tổng hợp, hoàn toàn không có ý định sẽ làm anh bộ đội. Nhưng sau ngày 17/2/1979, mọi người Việt Nam đều có ánh mắt mang hình viên đạn. Ngày 5/3/1979, Chủ tịch Tôn Đức Thắng ký lệnh Tổng động viên. Ở tầng 2 phía trên nhà tôi, nhạc sĩ Vũ Trọng Hối sáng tác bài hát “Lời tạm biệt lúc lên đường”, có câu “Việt Nam ơi, Việt Nam ơi trái tim Việt Nam tình yêu cuộc sống, giặc dùng đạn bom thì ta giáng trả đạn bom”. Cuối tháng 3, trường tôi đón nhiều người từ biên giới về kể chuyện chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược, trong đó có một cậu bé 15 tuổi ở Cao Bằng. Những câu chuyện kể của cậu thắp thêm lửa trong chúng tôi. Cũng thời gian ấy, các anh chị sinh viên trong khu tôi nghỉ học để đi xây dựng phòng tuyến Sông Cầu. Tháng 4/1979, trường Đại học Kỹ thuật Quân sự, nay là Học viện Kỹ thuật Quân sự cử cán bộ về trường tôi, mời những học sinh giỏi nhất thi vào trường. Tất cả những điều ấy khiến tôi không mất nhiều thời gian để quyết định đường đời mình, theo một hướng khác dự định trước đó.


Cuộc chiến tranh biên giới 1979 đã mang đến ngã rẽ quan trọng trong cuộc đời tôi, trong cuộc đời rất nhiều bạn bè tôi. Với nhiều người khác, cuộc chiến ấy không mang lại ngã rẽ, mà cắt đứt, cướp đi cuộc sống của họ. Cả 6 tỉnh biên giới phía Bắc lúc ấy, nay là 7 tỉnh bị tàn phá tan hoang. Đất nước đã nghèo càng thêm khốn khó, khi trong tình trạng chiến tranh với Trung Quốc thêm 10 năm nữa, phải duy trì lực lượng quân đội quá đông. Lịch sử quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc thêm một vết đen rất lớn, rất đậm.

35 năm sau cuộc chiến đó, mọi người vẫn nói nhiều về việc Trung Quốc đã gây ra cuộc chiến, nhằm phục vụ những mưu đồ của họ. Nhưng ít có người đặt câu hỏi, chúng ta có thể tránh được cuộc chiến tệ hại đó không, tránh bằng cách nào? Về cuộc chiến đó, nhà thơ Nguyễn Duy đã viết rất sâu sắc, “A.Q. túm tóc Chí Phèo, để hai bác lính nhà nghèo cùng thua”. Chí Phèo là ai? Chí Phèo là những người gọi Trung Quốc một cách miệt thị là Tàu, là Khựa, là những người đòi phải mãi mãi căm thù Trung Quốc, phải nuôi dưỡng mối thù truyền kiếp, Chí Phèo có thể là tôi, là bạn, nếu tôi và bạn dửng dưng hoặc ngầm tán thành những sự kích động hận thù.


Bạn Phạm Quang Vinh đã viết: “Mấy ngày trước đứng trong nghĩa trang Vị Xuyên, mình không thể cầm được nước mắt trước những tấm bia mộ của 1700 liệt sĩ còn nằm lại nơi biên viễn. Nhưng mình tin rằng, cách tốt nhất để tưởng nhớ họ, tưởng nhớ những người đã bỏ mình lại nơi biên viễn, là tạo dựng hoà bình, chứ không phải là bằng cách kêu gọi nhớ lại những mối thù dân tộc. Và hoà bình không thể có được bằng cách "tao thù mày, còn mày muốn hoà bình đừng thù tao nữa..." Chia sẻ với bạn suy nghĩ ấy.

Nhà báo Thiềm Thừ
[...]

Categories: ,